Chủ Nhật, 29/08/2010, 22:18 GMT+7
Thực trạng doanh nhân Việt, có nên chỉ lạc quan?
Bài viết mới đây về doanh nhân 3.0 của ông Giản Tư Trung đăng trên VNR500 đã thu hút được nhiều ý kiến tranh luận của độc giả. Bên cạnh những ủng hộ cũng có không ít dư luận cho rằng, tác giả đã vẽ lên một bức tranh thiếu thực tế về doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam.

Theo ông Giản Tư Trung, doanh nhân 3.0 là những con người có khát vọng mới - khát vọng đua tranh mạnh mẽ cùng thế giới, dù quy mô của doanh nghiệp là lớn hay chỉ nhỏ gọn trong phạm vi gia đình, dù là đua tranh ở bên ngoài đất nước hay đua tranh với thế giới ngay trong "nhà" của mình, chứ không chỉ là đua tranh giữa các doanh nhân Việt với nhau.

Đó còn là khát vọng dẹp bỏ những hình ảnh "doanh nhân Việt xấu xí" mà thay vào đó là khát vọng xây dựng hình ảnh mới đẹp hơn cho cả cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Ông Trung cho rằng, doanh nhân 3.0 mang trong mình những giá trị mới, những phẩm chất, những văn hóa mới làm nền tảng giúp doanh nhân có năng lực thực hiện khát vọng của mình. Những giá trị nền tảng đó có thể là: Tín thực (Integrity), Tiên phong (Leadership), Khát vọng (Aspiration), Dấn thân (Dedication), Tôn trọng (Respect)...

Theo ông Trung, những người tham gia vào thế hệ doanh nhân 3.0 sẽ là thế hệ doanh nhân trẻ mới được trui rèn và những doanh nhân hiện nay biết cách tự tái tạo lại bản thân mình, tự làm mới mình bằng khát vọng mới, năng lực mới và giá trị mới, trên nền tảng kế thừa những gì mà thế hệ doanh nhân 2.0 đã bước đầu tạo dựng.

Nên nhìn nhận thực trạng doanh nhân Việt Nam hiện nay như thế nào?
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, bức tranh doanh nhân 3.0 của ông Trung có lẽ là "chuyện viễn tưởng", bởi lẽ, thực trạng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam có rất nhiều mảng tối, như doanh nghiệp thân hữu, doanh nghiệp sân sau để chiếm đoạt đất công, chiếm đoạt các dự án, nguồn lực.

Nhà báo Trần Trọng Thức trong bài viết "Cảnh giác với hình thái tư bản thân hữu" cũng cho rằng, hình thái này có thể công phá bất cứ chế độ chính trị nào, mà hậu quả gây ra là tài nguyên đất nước ngày càng nghèo đi cho một số người giàu lên, bằng sự kết hợp giữa quyền lực và lợi ích.

Lấy ví dụ Indonesia, sau khi giành độc lập từ Hà Lan năm 1949, tổng thống Sukarno, rồi đến tổng thống Soharto lên cầm quyền vào năm 1968 đều dựa vào giới tài phiệt để củng cố quyền lực và làm giàu cho gia đình. Cách làm dễ nhất là giao "vốn tự có" của đất nước như rừng, khoáng sản và một một số đặc quyền thương mại cho người thân trong gia đình, dòng họ, cá nhân thân tín.

Các nhóm kinh doanh này ngày càng mạnh, nhanh chóng trở thành thế lực tài phiệt có khả năng chi phối cả chủ nhân của họ và trở thành những nhóm áp lực mà nhiều trường hợp đã tác đông đến các quyết định của những nhân vật chủ yếu trong chính quyền. Đây là một bài toán chính trị cổ điển từ xa xưa được vận dụng vào điều kiện thị trường và là hệ quả đương nhiên do lãnh đạo đất nước nuôi dưỡng một số nhỏ các nhóm đặc quyền mà khi nhìn ra nguy hại thì đã quá trễ.

Hay như ở Philippines, những tên tuổi như Cojuangco, Tan, Lopez, Villar... được nhắc đến trong giới tài phiệt nhờ độc quyền thương mại và khai thác lâm, khoáng sản, không ít thành viên trong số họ đã tham gia chính trị để hỗ trợ kinh tế gia đình.

Mặc dù đất nước này được hình thành theo mô hình dân chủ pháp trị, hiến pháp Philippines được soạn với sự tư vấn của chuyên gia Mỹ, nhưng "văn hoá chính trị" vẫn là sự toa rập giữa chính quyền các cấp và giới tài phiệt.

Theo ông Trần Trọng Thức, tuy hoàn cảnh lịch sử, thể chế chính trị của Việt Nam khác các nước láng giềng nhưng ai dám cam đoan rằng chúng ta hoàn toàn có khả năng khóa chặt các cửa ngõ thâm nhập của "tư bản thân hữu". Có người lạc quan rằng, "ông ấy" chỉ đang chờ chực ngoài cửa, chưa đặt chân vào nhà, thế nhưng cũng đã cho anh lính tiền trạm là các "nhóm lợi ích" phát ra những tín hiệu thăm dò.

bantinsom.com ( theo vietnamnet.vn )