Thứ tư, 21/07/2010, 12:14 GMT+7
Hành trình duy niệm của nhân loại
Đa số người Việt chúng ta đều nghĩ, triết học là thứ quá cao siêu, chỉ dành cho các học giả lớn. Chúng ta hãy nghĩ, triết học như nước, nước có thể chảy dưới khe, có thể bốc hơi lên trời. Triết học cũng vậy, nó là khoa học khởi nguồn của tư duy, như mọi suy tư phải có logic, nhưng nó cũng luôn luôn mang sức phóng lên các tầng mây vì hóa thành hơi nước.

Học và đọc triết học để làm chủ tư duy cũng như lập trình cho cuộc đời.

Tác giả Nguyễn Hoàng Đức với những nhận thức cặn kẽ về triết học đã trình bày các vấn đề căn bản của môn học này một cách rõ ràng và sáng sủa trong cuốn sách “Hành trình duy niệm của nhân loại”, khiến cho người đọc chưa từng say mê triết học cũng có thể thấu hiểu những điểm quan trọng nhất của nó. Điểm hay là tác giả đưa ra khá nhiều ví dụ sinh động từ cuộc sống và tự nhiên khiến cho những luận đề trừa tượng trở nên đơn giản và dễ hình dung.

“Đi chậm sẽ đi nhanh”, đó là phương pháp của nhân loại. Với tinh thần ấy, VietNamNet xin giới thiệu một số phần trong tác phẩm này của tác giả Nguyễn Hoàng Đức, với mong muốn khai mở tầm nhìn và tạo ra chiều sâu nền tảng cho mọi hành động của con người, đặc biệt của tầng lớp doanh nhân. Bởi đúng như tác giả nói: “Triết học để làm chủ gốc rễ của tư duy, cũng là làm chủ cuộc đời và tạo ra hành trình tiến bộ.”

 Tư duy phải trở thành thú vui của tinh thần

Người Việt nói riêng, người châu Á nói riêng rất ngại dính mắc vào những vấn đề của triết học. Phần lớn cho rằng, triết học bao gồm những cặp phạm trù khô khan, phức tạp, khó hiểu, chẳng liên quan gì mấy đến cuộc đời nhãn tiền tươi rói, tinh khôi, thực chứng sức sống đang ào ạt tuôn chảy hồn nhiên trào ra khỏi mọi khuôn thức cứng nhắc – mô phạm của triết lý. Và nhiều người hầu như an nhiên tận hưởng bất chấp triết học, cuộc đời vẫn sống, mọi khoa học vẫn phát triển, và mọi nghệ thuật vẫn sum suê đâm cành, nảy lộc.

 

Nhưng không hẳn vậy. Tôi viết cuốn sách này dựa trên một tiền đề rất chắc chắn, đó là bằng chứng thật của cuộc sống. Thực tế cho thấy có và có rất nhiều những cuộc hội thảo đã diễn ra trong thế kỷ XX. Khi hai nền văn hóa Đông – Tây đã hội nhập, khám phá lẫn nhau, trước mỗi hội nghị bàn về đề tài cụ thể như môi trường, văn hóa, xã hội, y học, vật lý… mỗi đại biểu đều được phát trước một chiếc thẻ phát biểu ý kiến nhưng từ hội nghị này đến hội nghị kia, dường như thói quen đã biến thành thông lệ, thông lệ đã biến thành định kiến khó cải thiện cũng như gột sạch, đó là các đại biểu của bùng châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản hầu như chẳng đưa ra ý kiến nào cụ thể có tính đề tài (thétique) hay chức năng, hay chuyên luận; mà nói chung hội nghị nào cũng như hội nghị nào, họ đều chung chung đưa ra những ý kiến không mũi nhọn, trung dung, vô thưởng vô phạt, trong âm có dương, trong dương chứa âm, thế này cũng không tốt, thế kia cũng chẳng hay, mà chúng ta nên tiến hành một khoa học bao gồm toàn thể..

Tình trạng của người Nhật Bản khá là trầm trọng. Ở Mỹ chẳng hạn, tôi thấy nhiều bạn bè tôi lo ngại về đời sống trí tuệ của người dân Mỹ, mặc dù vậy, tôi thấy rất nhiều người thể hiện tính cách độc lập trong suy nghĩ của họ và cũng đầy vi tế trong cư xử cũng như tìm cách thể hiện ý tưởng của mình. Ở Nhật thì đời sống văn hóa quá ư đơn giản, hầu như toàn bộ cách sống của xã hội là xoay quanh phương tiện truyền thông và chỉ có vậy. Và chúng ta rất hiếm khi được nghe thấy ý tưởng của một nhà tư tưởng hay một học giả.”

Tình trạng đó thật phổ biến ở châu Á. Nó diễn ra bởi chúng ta chìm trong chế độ phong kiến quá lâu. Ở đó, một quân vương có thể chưa biết mặc quần đã lãnh trị cả trăm triệu người. Mỗi lời đánh rơi khỏi miệng dù thanh hay tục đều trở thành thánh chỉ. Mọi người chỉ có mỗi một lựa chọn là rập đầu tuân thủ. Xem một loạt phim về các triều đình phong kiến Trung Quốc, mọi người thường chứng kiến (một cách sử cố) mỗi khi gặp khó khăn, vua triệu quan đại thần đến xin ý kiến, thì chỉ được nghe: “Bệ hạ sáng suốt, xin quyết định! Thần u mê không dám – không hiểu”. Rất hiếm khi, có một quan đại thần trình tấu quan điểm thì các quan lại ào ào phản đối. Vua mới bảo: “Tại sao khi trẫm hỏi, các khanh chẳng ai có ý kiến, đến khi người khác trình bày ý kiến thì lại xúm vào bôi bác?” Đó là một đời sống đã tê liệt mọi ý kiến xây dựng mà chỉ còn duy trì cách thức bôi bác, bẻ hành bẻ tỏi, phá hủy mọi cố gắng tiến về phía trước. Chính vì căn bệnh trầm kha đó mà khi đối mặt với phương Tây, triều đình Mãn Thanh ấu trĩ đến mức thán phục vài khẩu súng như bảo bối thần linh và sớm tan rã. Và lãnh tụ Tôn Trung Sơn, cha đẻ của chủ nghĩa tam dân – lý thuyết cách mạng cho dân tộc Trung Hoa, đã nhìn thấu cố tật “vừa bé vừa nhỏ” của một dân tộc lớn như sau: “Cái mà người Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc. Trung Quốc không có chủ nghĩa quốc tộc” (1).

Chúng ta thử đặt câu hỏi: một dân tộc lớn lại chỉ sống như gia tộc và tông tộc thì có co hẹp biên giới quốc gia thành rào giậu của gia đình? Và tại sao thế, liệu có phải do thiếu một tư tưởng được xây nên từ sinh hoạt triết học thường xuyên?

“Con người là động vật có lý trí” (Aristotle). Bởi thế tinh thần càng cao, con người càng xa rời biên giới của muông thú. Trái lại, nếu con người chỉ tìm cách sống hơn nhau trong phẩm trật, quần áo, tiền bạc thì cũng chẳng vượt gì hơn trong nấc thang giá trị con người. Trong phim “Mười ba đời vua nhà Thanh” có đoạn thời vua Đồng Trị, Từ Hy thái hậu chỉ nhìn thấy hai nô tì gái chải đầu đẹp giống mình, đã nổi máu ghen tị lôi ra chém. Than ôi, làm đến Hoàng thái hậu, quần áo trang sức hơn nô tì một trời một vực, vậy mà tâm hồn cũng chỉ là thứ ngang nô tì. Tại sao vậy? Vì phẩm chất tư tưởng còn thấp kém nên dù có xúng xính lụa là châu báu cũng chẳng cải thiện nổi cho mình thoát ra ranh giới kẻ hầu! Và Tôn Trung Sơn cũng đã chỉ ra cái yếu kém của dân tộc Trung Hoa, chưa từng có chiến tranh về tư tưởng hay tôn giáo, chỉ có mối bận tâm về gia tộc: “Người Trung Quốc chỉ có các nhóm gia tộc và tông tộc, không có tinh thần dân tộc. Do đó, tuy có một Trung Quốc do bốn trăm triệu người kết thành, trên thực tế chúng ta là một mảng cát rời rạc. Chúng ta là một nước nghèo nhất, yếu nhất trên thế giới hiện nay, có địa vị thấp nhất trên trường quốc tế.”(2) Ông còn rất lo ngại rằng: “Vì người Trung Quốc phần đông là bất tri bất giác, e rằng vài nghìn năm nữa toàn thể nhân dân vẫn chưa biết giành dân quyền”(3).

 

Bàn về Trung Quốc và Nhật Bản, những nước lớn nhất, giàu nhất châu Á để chúng ta có cơ sở tham chiếu đời sống tư tưởng của dân tộc. Trong những nghiên cứu mới nhất về văn hóa dân tộc, nhà văn hóa Hữu Ngọc đã đưa ra một nhận định cảnh tỉnh hết sức thao thức rằng: Chúng ta đã có nhiều kiểu mẫu anh hùng lớn, chiến sĩ giỏi nhưng rất đang thiếu đức hạnh công dân.

 Đức hạnh công dân là gì? Có phải chúng ta vẫn đang sống “đèn nhà ai, rạng nhà nấy”. Lo vun vén thói ích kỷ, lối tiểu nông, làm sao có thể xây dựng một xã hội hiện đại – công bằng – bác ái? Theo các triết gia, thì bản chất của bản năng, tình cảm, giác quan đều có xu hướng co cụm, ích kỷ, tiến đến kéo bè kéo cánh, địa phương chủ nghĩa. Chỉ có lý trí mới tìm đến tiếng nói chung, và muốn vậy buộc nó phải vượt qua sự co cụm vị kỷ để tìm đến mọi người – tức công lý và chân lý. Từ cơ quan đến ngoài xã hội, từ ngành này qua ngành kia, chúng ta vẫn được chứng kiến một đời sống tư tưởng: “Thứ nhất đồng ý, thứ nhì im lặng”.

Ở đời chỉ có hai loại sản xuất chính: 1- cơ bắp sản xuất vật phẩm; 2- trí não sản xuất ý tưởng. Vậy mà hầu khắp đời sống tinh thần của chúng ta chẳng sản xuất được gì nhiều hơn sự “im lặng” và “đồng ý”, thử hỏi xã hội sẽ tiến bộ bằng cách nào? Và thế giới cũng hình thành rõ rệt hai đẳng cấp, dân tộc nào sống trong sản sinh tinh thần nhiều hơn sẽ làm ông chủ, dân tộc nào sống theo thói quen bản năng nhiều hơn – ít động não, sẽ làm nô bộc. Người Việt cũng phân rõ hai hạng:

Ông cả ngồi trên sập vàng
Cả ăn cả mặc lại càng cả lo
Thằng bếp ngồi trong xó tro
Ít ăn ít mặc ít lo ít làm.

Thật quá rõ ràng, một dân tộc ít lo ít làm thì làm sao giàu mạnh? Muốn giàu mạnh thì chỉ có một con đường làm nhiều và lo nhiều – tức vận động tinh thần nhiều hơn để sản sinh nhiều sáng kiến hơn. Muốn thế thì không thể ngại học, ngại tư duy.

Tư duy phải trở thành thú vui của tinh thần chứ không phải cái ách khổ ải như nhiều người nghĩ. Giản dị như trò chơi đánh cờ, xếp chữ, hay rubic cũng vậy, người chơi thấy vui vì được nghĩ, được tính, chứ không phải thấy khổ. Niềm vui tư duy không phải chỉ là sự cảnh tỉnh những người ít học, mà với tất cả chúng ta. Theo các nhà chuyên môn chẳng hạn, dân tộc ta có rất nhiều con em đạt giải cao trong các kì thi toán quốc tế. Thật tự hào! Nhưng cũng đáng tiếc thay, trong rất nhiều hạt giống ưu tú đó, không bói ra nổi một nhà toán học lý thuyết. Tóm lại, ngay cả những hạt giống tư duy đó vẫn ngại tư duy để trở thành đại thụ tư duy. Ở các ngành khác cũng vậy. Mở đầu chúng ta không thiếu gì những chuyên gia giỏi được đào tạo chính quy, nhưng chẳng được mấy hồi các chuyên gia chểnh mảng cuộc truy tìm chuyên môn, lao sang các cuộc truy lùng “ghế quản trị”. Thế là ngọn lửa tư duy chuyên môn đành tắt lịm, nhường bước cho ngọn lửa phẩm trật xã hội – ai cũng giống ai – nhà chuyên môn nào cũng na ná nhau theo cách thức “tìm số ghế”.
Tình trạng còn nặng hơn trong các ngành xã hội, bởi lẽ các ngành tự nhiên ít hay nhiều đều phải hình thành thói quen nói  – làm – nghiên cứu dựa trên các chuẩn mực của lý trí. Dẫu vậy, khoa học đối với dân tộc ta là một lĩnh vực còn khá ngỡ ngàng khá khiêm tốn. Trái lại, ngành xã hội nhân văn, đặc biệt với văn thơ, nở rộ như một vườn hoa dại. Hàng nghìn, hàng vạn tập thơ ra đời mỗi năm mà dường như chẳng ép nổi một vài hạt tinh dầu của lý trí phán định. Thế là, nạn kéo bè kéo cánh, tung hô có đi có lại diễn ra đại trà. Sinh ra khen vờ chê giả. Nói có sách mách có chứng, đã qua vài đại hội nhà văn toàn quốc, có cả nghìn người về dự, chỉ đếm được lưa thưa trên đầu ngón ta vài nhà phê bình miễn cưỡng “ép khung tuổi”. Và còn nghèo nàn hơn, tại các diễn đàn dành cho các cây bút trẻ, người ta vừa bói vừa nhặt chẳng gom nổi một vài hạt vàng tấm của ý tưởng hay phát kiến. Có rất nhiều, rất nhiều nhà văn, nhà thơ che chắn thủ thế từng lời nói, chiến thuật mỗi ứng xử, để làm gì? Để tìm cách thành đạt “ghế đánh số xã hội” hơn là vì chuyên môn văn học. Đây là kiểu mẫu khá điển hình cho trình độ sống của chúng ta. Đó là bằng mọi cách chúng ta vẫn tìm kế mưu sinh, cách tồn tại, cách hơn người nhiều hơn là tìm cách sống chuyên môn để nâng cao giá trị thực của mình.

Một xã hội hùng mạnh theo triết gia Socrates là mọi người cố gắng sống theo phẩm chất chuyên môn riêng biệt một cách cao nhất. Người chăn cừu, hãy nuôi đàn cừu cho thật nhiều, thật béo; người thầy thuốc hãy lo chữa chạy thật tốt cho bệnh nhân; và người viết văn hãy lo để viết thật hay… Trái lại một xã hội sẽ vô cùng yếu ớt nếu người ta chưa làm nghề gì đã lo kiếm được bao nhiêu và vị trí xã hội của mình sẽ đặt ở chỗ nào? Khi chúng ta đã giành độc lập, đã có tự do mà nhà văn vẫn tự chuốc vào mình, loay hoay ứng xử để kiếm ghế ưu tiên thay cho việc thể hiện ý tưởng cũng như chuyên môn thì có bé nhỏ không? Trong đối thoại, người Việt ít để ý và đi đến cùng vấn đề của nhận thức mà thường chỉ lưu tâm đến ảnh hưởng xã hội. Bởi thế khi đối thoại căng thẳng thì thường đem tâm lý xuê xoa chân lý, đem thái độ thay thế trình độ.

Đó là những cơ sở quốc tế và quốc nội để tôi viết cuốn sách này. Cả thế giới vẫn nói “Triết học là khoa học của khoa học”. Vì thiếu tri thức nền móng của triết học nên người châu Á nói chung, người Việt Nam rất ngại – thiếu vững tâm – thiếu sở cứ để đưa ra ý tưởng. Người Việt đa số rất ngại, rất sợ triết học bởi họ lầm tưởng rằng triết học là thứ cao siêu, chỉ để dành cho những ai buộc phải mang sứ mệnh cao siêu. Thực ra không phải vậy. Triết học là tình yêu sự thông thái. Nó là niềm say mê tư duy thông thái. Nó là con đường của tư duy. Ai muốn yêu thích tư duy tự nhiên yêu thích triết học. Và triết học là những gì cốt tử hết sức gần gũi với mọi vấn đề cơ bản của con người. Nhiệm vụ cuốn sách của tôi muốn đạt tới là trình bày hệ thống tư duy triết học, những thành tựu, những ưu tư của triết học theo chiều dọc, để mọi người có thể nhận biết triết học mạch lạc hơn, dễ hiểu hơn và không sợ hãi.

bantinsom.com ( theo tuanvietnam.net )