|
Ngành dệt may các nước đang PT dưới t/động của khủng hoảng KT
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc của EU từ các nước đang phát triển (DCs) giảm cả về lượng và trị giá trong quý III năm 2008. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến cho kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may vào EU giảm mạnh hơn trong sáu tháng đầu năm 2009.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong tháng 5/2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của ta sang EU tuy đã tăng khá mạnh nhưng vẫn giảm 1,94% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung, 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu giảm 3,6%, đạt 574 triệu USD.
Bên cạnh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, còn có một số nguyên nhân khác khiến lượng hàng dệt may nhập khẩu vào EU giảm: (1) Những tháng cuối năm 2006 đã có một số dấu hiệu cho thấy xu hướng phát triển không khả quan của hệ thống bán lẻ tại EU; (2) thị trường tiêu dùng đã bão hòa; và (3) sự cạnh tranh giữa các quốc gia leo thang. Sau khi lệnh dỡ bỏ hạn ngạch đối với Trung Quốc được áp dụng từ đầu năm 2008, thì sự cạnh tranh mua bán đã thực sự diễn ra ở châu Á với chiến lược "cạnh tranh đến cùng" của các công ty đồng nghĩa với việc đẩy giá xuống thấp tới mức kỷ lục.
52% tổng khối lượng hàng may mặc nhập khẩu của EU được cung cấp từ các nước đang phát triển. Năm 2004, 13% sản lượng nhập khẩu là hàng Trung Quốc; còn hiện nay mặt hàng Trung Quốc chiếm 28% thị trường. Giá nhập khẩu trong 3 năm trở lại đây giảm trung bình 26% do cuộc chiến cạnh tranh giữa các nhà cung cấp và thị trường nhập khẩu. Ngoài ra, cuộc khủng hoảng hiện nay đã gây những ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường hàng may mặc. Từ tháng 11 năm 2008 nhập khẩu hàng may mặc của EU đã giảm trung bình 4,5%. Thị trường Anh giảm mạnh nhất (9,5%), lý do một phần là sự suy yếu của đồng bảng Anh, kế tiếp là Ý (3,2%), Tây Ban Nha (2,8%) và Pháp (1,5%). Các chuyên gia cho rằng nhập khẩu dệt may vào EU sẽ còn giảm mạnh trong những tháng tới.
1. Tác động đối với nguồn cung ứng Điều kiện nhập khẩu và thương mại Cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu đã gây ra những ảnh hưởng khác nhau đối với từng quốc gia cung cấp hàng dệt may. Các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hưởng Chế độ ưu đãi tổng quát về thuế quan (GPS) được miễn thuế nhập khẩu tại EU (chênh 12% về giá so với các nhà xuất khẩu khác). Danh sách các quốc gia được hưởng đãi ngộ này bao gồm Việt Nam, Bangladesh và Sri Lanka. Nhờ thế, các nhà XK tại các nước này có thể cung cấp cho người mua tại EU những lợi thế hấp dẫn về giá. Pakistan, một trong những nhà cung cấp hàng may mặc và dệt kim lớn nhất tại EU, từ tháng Giêng 2007 đã không còn được hưởng Chế độ ưu đãi tổng quát về thuế quan (GSP). Lí do một phần là vì sự bất ổn định ở quốc gia này đã khiến kim ngạch xuất khẩu của Pakistan đã giảm xuống 31% so với năm ngoái.
"Chứng nhận Vận chuyển EUR.1" cho phép các nước Bắc Phi, bao gồm cả Ai Cập, có thể cung cấp hàng dệt may vào thị trường EU mà không phải chịu thuế nhập khẩu. Những nước này có nhiều lợi thế về địa lý, mặc dù giá nhân công ở đây khá cao. Họ thường cung cấp các sản phẩm mang lại "giá trị thặng dư", phần lớn là các sản phẩm có thương hiệu. Tuy nhiên, một số nước như Tunisia, Ai cập và Ma-rốc đã mất dần lợi thế cạnh tranh trên thị trường Châu Âu trong 3 năm qua do họ chuyển mũi nhọn sang thị trường Mỹ bằng việc cung cấp các sản phẩm đại trà theo Hiệp định thương mại tự do (FTA). 4 năm trở lại đây, tại Đông Âu, bao gồm cả khu vực Balkan đã có sự chuyển biến mạnh trong hoạt động sản xuất hàng dệt may. Sau khi Ba Lan và Slô-va-ki-a gia nhập Liên minh Châu Âu năm 2004, việc sản xuất đã nhanh chóng chuyển sang các nước có chi phí nhân công thấp hơn như Albania, Serbia và Macedonia. Mặc dù có lợi thế về địa lý, ngành công nghiệp may mặc Macedonia vẫn phải chứng kiến tỉ lệ lao động giảm 1/3 trong vòng 3 tháng qua do thị trường bán lẻ Châu Âu suy yếu và do sự trì hoãn cấp chứng nhận EUR1, điều này có nghĩa là hàng xuất khẩu của Macedonia vẫn phải chịu mức thuế 12%.
Cạnh tranh Các nhà xuất khẩu phụ thuộc vào thị trường Mỹ (nhất là các doanh nghiệp từ Bắc Phi, châu Mỹ Latin) và các doanh nghiệp ở Anh đã bị ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng, một phần là do khủng hoảng khởi nguồn đầu tiên tại Mỹ.
Bắc Phi Tunisia, Ai Cập và Ma-rốc, nhờ Hiệp định Thương mại tự do (FTA), đã chuyển hướng chú trọng xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong 3 năm gần đây. Mặc dù trước đó họ có xu hướng sản xuất hàng may mặc chất lượng cao có thương hiệu cho thị trường châu Âu, thì mới đây họ đã tập trung vào các đơn hàng số lượng lớn, sản xuất hàng đại trà phục vụ thị trường Mỹ. Người tiêu dùng Mỹ thường trả trung bình cao hơn từ 10-14% cho một sản phẩm so với người tiêu dùng Châu Âu. Sự khác biệt này là do ảnh hưởng bởi bề dày lịch sử của ngành sản xuất đồ may mặc Châu Âu và nhận thức về giá cả tương đối tốt trong của người dân Châu Âu.
Thị trường Châu Âu cần những đơn hàng số lượng nhỏ và cần các sản phẩm đáp ứng tính thời trang theo mùa vụ, do vậy đây cũng là một thị trường khá "khó tính" với các nhà cung cấp. Mặc dù thị trường châu Âu có 456 triệu người tiêu dùng, lớn hơn thị trường Mỹ, nhưng lại bị phân mảnh, bao gồm một số lớn các nước thành viên, trong đó mỗi nước có đặc tính riêng biệt và có yêu cầu sản phẩm khác nhau.
Theo một báo cáo của IMC, xuất khẩu hàng may mặc sẵn (RMG) của Ai Cập đã giảm 25% từ giữa tháng 9 năm 2008 và tháng 2 năm 2009 trong đó trên 60% được cập cảng vào thị trường Mỹ. Cũng trong mấy năm gần đây, ngành công nghiệp dệt may của Ma-rốc đã giảm 12% và nhiều nhà máy phải đóng cửa. Nhiều đơn hàng lớn với Châu Âu đã bị trì hoãn hay hủy bỏ là yếu tố chính tác động mạnh đến ngành công nghiệp Bắc Phi.
Châu Mỹ Latinh Trong số các quốc gia châu Mỹ Latinh, Peru và Colombia vẫn là 2 nước từ trước tới nay phụ thuộc vào thị trường Mỹ với 80% lượng hàng may mặc xuất khẩu là dành cho thị trường Mỹ. Ngành công nghiệp may mặc ở hai nước này cũng chiếm được vị trí ưu thế trong thị trường nội địa. Tuy nhiên, cả hai nước, trong những tháng đầu năm 2009 đều phải đối mặt với tình trạng không có các đơn hàng. Vì vậy, việc tìm kiếm và tiếp cận đến các thị trường xuất khẩu mới, như Châu Âu chẳng hạn, sẽ là những bước ưu tiên trước hết. Bên cạnh đó, họ lại chưa quen với những yêu cầu "thắt chặt" về chất lượng dịch vụ và chính sách giá cả ở Châu Âu nên những thiệt hại cho các doanh nghiệp XK tại khu vực này là khó tránh khỏi.
Bangladesh Từ trước tới nay Bangladesh luôn là một nhà cung cấp quan trọng của Anh. Sáu chủ nhà máy trong cuộc khảo sát của CBI cho biết xuất khẩu của họ đã giảm 17% về lượng và 23% về giá trị. Với lợi nhuận xuất khẩu trung bình là 20%, các nhà máy đang phải 'gồng mình' để duy trì hòa vốn hay là giảm thiệt hại về lỗ đến mức tối đa. Vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi mà theo thông lệ Bangladesh vẫn phụ thuộc vào các đơn hàng dài hạn. Người mua phải đặt hàng sản xuất trước 4-5 tháng, điều này có nghĩa là các nhà xuất khẩu nước này thường từ chối nhận các đơn hàng quá mức công suất lớn nhất của họ. Hiện nay, những người mua hàng châu Âu đã đặt đơn hàng cho đến tháng Sáu năm 2009 nói rằng họ sẽ không đặt hàng quá tháng 3. Kết quả là hàng loạt doanh nghiệp Bangladesh không còn nhận được đơn hàng. ác nhà xuất khẩu nước này cho hay tình trạng suy giảm trong số lượng đặt hàng hiện tại đã được hạn chế, tuy nhiên áp lực về giá cả khiến cho họ không còn khả năng đáp ứng.
Việt Nam Ngành công nghiệp may mặc Việt Nam đang vận hành khá tốt và ít nhiều không bị ảnh hưởng mấy từ khủng hoảng tài chính. Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn thứ hai cho thị trường Mỹ, sau Trung Quốc. Mặc dù giá xuất khẩu trung bình giảm 23% trong 4 năm qua do cạnh tranh gia tăng từ Trung Quốc, nhưng ngành may mặc vẫn duy trì tình trạng khá tốt. Một trong những lý do đó là sự tham gia tích cực của chính phủ Việt Nam đối với ngành công nghiệp may mặc với các chính sách xuất khẩu ưu đãi và hỗ trợ doanh nghiệp và tăng vốn đầu tư để tiếp cận các thị trường xuất khẩu mới, nhất là thị trường EU.
Indonesia
Trong các nước sản xuất hàng may mặc
ở châu Á thì Indonesia là nước đã xây dựng được mối liên kết bền chặt
giữa các công đoạn sản xuất theo chiều dọc, từ khâu sản xuất chỉ sợi
may đến sản xuất quần áo. Ngành công nghiệp hàng dệt kim của Indonesia
xếp thứ 4 trên thế giới về năng lực sản xuất. Thành công này nhờ việc
lựa chọn phân đoạn thị trường hạng trung ở Châu Âu. Nước này đã giành
vị thế là nhà cung cấp sản phẩm mang lại thặng dư giá trị cao, không
chỉ bởi các công đoạn gắn kết chặt chẽ mà bởi vì khâu thiết kế sản phẩm
cũng rất mạnh. Sự liên kết của các nhà thiết kế trong quá trình phát
triển sản phẩm đã đưa Indonesia trở thành nhà cung cấp được ưa chuộng.
Tuy nhiên trong năm 2008, khi bảo hộ nhập khẩu chống lại các sản phẩm
Trung Quốc bị dỡ bỏ, Indonesia lại phải đối mặt với đối thủ cạnh tranh
đáng nể là Trung Quốc.
Các giải pháp của chính phủ
Xét trên khía cạnh thể chế, cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến các chính phủ đưa ra một loạt các biện pháp. Chẳng hạn Trung Quốc cho rằng tỷ lệ xuất khẩu hàng may mặc giảm 1-2% trong tháng 3 năm 2009. Bangladesh cũng công bố biện pháp khuyến khích đối với xuất khẩu hàng dệt kim cho các nhà sản xuất mặt hàng này. Ngành hàng này đang có sự tụt hậu về tự động hóa nhưng mục tiêu của Bangladesh khi hội nhập là trách nhiệm tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân. Động thái này đã 'chọc giận' các nhà sản xuất hàng len vì những mặt hàng này được sản xuất chủ yếu bằng những khung dệt tự động. Phân đoạn hàng len là một trong những phân đoạn hàng may mặc hoạt động hiệu quả tại thị trường nội địa cũng như quốc tế. Phần lớn các nhà sản xuất hàng len cho rằng việc tập trung vào mặt hàng dệt kim cũng không góp phần làm tăng sản lượng xuất khẩu hàng dệt may của nước này.
Trong khi đó, các ngân hàng ở nhiều nước cũng đã đưa các biện pháp bảo hộ. Ở những nước có hệ thống ngân hàng chủ động, thư tín dụng (LC) - một hình thức tài chính cầm cố được đưa ra bởi các ngân hàng dựa trên giá trị của cả đơn hàng - đóng trò quan trọng trong tăng trưởng xuất khẩu. Những nhà sản xuất địa phương sử dụng một loại thư tín dụng khác gọi là "back-to-back LC" (thư tín dụng giáp lưng), theo đó một nhà sản xuất có thể mở một tín dụng mới dựa trên cơ sở một L/C đã có cho khách hàng Liên minh Châu Âu của anh ta để mua nguyên vật liệu hay bất cứ thứ gì khác cần thiết để sản xuất đáp ứng các đơn đặt hàng. Hiện nay các ngân hàng đang liên tiếp từ chối mở các tài khoản thư tín dụng LC do công việc sản xuất đang đình trệ nghiêm trọng.
Kỳ vọng cho năm 2009 Biểu đồ 1.1 Tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may ở các nước đang phát triển (n = 25 nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển)
Nguồn: CBI Biểu đồ 1 cho thấy 84% các nhà xuất khẩu hàng may mặc ở các nước đang phát triển cho rằng xuất khẩu sẽ giảm trong năm nay. Hơn ¼ trong số này dự báo suy giảm hơn 25% so với cùng kì năm 2008. Các nhà xuất khẩu đều bi quan về sự tăng trưởng lợi nhuận xuất khẩu. Gần 60% tin rằng họ sẽ phải cắt giảm việc làm trong năm nay, và 16% trong số đó hy vọng tỉ lệ cắt giảm việc sẽ không vượt quá 25%.
Tác động Trong cuộc khoả sát lần này, phần lớn các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp (BSOs) (65%) tin rằng tối đa là 10% các nhà xuất khẩu trong ngành này sẽ bị phá sản trong năm nay. Còn 14% trong số này cho rằng mức thua lỗ tới mức tối đa là 40%. Những vấn đề cáp bách nhất mà hiện nay ngành này đang phải đối mặt là: + Yêu cầu đặt hàng giảm từ các thị trường xuất khẩu chủ chốt (10x) + Tỷ lệ thất nghiệp (4x) + Các ngân hàng từ chối các khoản vay (2x) + Lợi nhuận xuất khẩu giảm do cạnh tranh và chi phí lao động tăng (2x) + Khách hàng trì hoãn thanh toán + Khó khăn để chi trả cho việc nhập nguyên liệu thô + Không có khả năng đáp ứng yêu cầu chất lượng + Sức mua của người tiêu dùng giảm + Lương chi trả cho nhân viên giảm + Chi phí Thư tín dụng tăng + Áp lực về giá.
Thị trường bán lẻ Châu Âu Thị trường bán lẻ Châu Âu đang bị sức ép nặng nề do các cửa tiệm hầu như không còn hàng tồn, và các cửa hàng đồng loạt giảm giá ngay khi hàng vừa nhập về. Tình trạng này đặc biệt xảy ra với phân đoạn thị trường bậc trung - phân đoạn quần áo lớn nhất cho tới nay tại tất cả các nước EU. Các nhà bán lẻ trong phân đoạn này thường có biên lợi nhuận từ 43% đến 55% với các sản phẩm theo mùa vụ (các bộ sưu tập); 43% là mức thấp nhất để các doanh nghiệp hoà vốn.
Thị trường bán lẻ quần áo trong vòng 3 năm qua đã chuyển từ thị trường hàng tiêu dùng đại trà sang thị trường quần áo thời trang cùng với sự thay đổi chóng mặt của các bộ sưu tập. Những chuỗi cửa hàng như H&M, Zara, hay Mango đã thành công nhờ loại bỏ tính mùa vụ truyền thống (Xuân, Hạ, Thu, Đông). Thay vào đó, họ sản xuất các sản phẩm chạy theo thời trang và thay đổi mẫu mã theo từng ngày.
Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đã rất chật vật chạy theo xu hướng khi thị trường giờ đây có 4, 6 hay thậm chí 8 mùa thời trang trong một năm. Thường vòng đời cho các sản phẩm thời trang là 6 tuần, sau đó những sản phẩm này được bán hạ giá. Phương hướng kinh doanh kiểu này đã gây thiệt hại lớn về biên lợi nhuận cho các doanh nghiệp nhất là khi họ đặt hàng với số lượng lớn. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cùng với sức mua của người tiêu dùng giảm đã tạo một "cơn bão" lớn cho các doanh nghiệp và kết quả một vài trong số đó dự báo thiệt hại về biên lợi nhuận của họ có thể tới 30% và tương lai họ sẽ phải đóng cửa một số cửa hàng và tạm dừng một số kế hoạch mở rộng. Nhiều người thất nghiệp, số lượng đơn hàng bị trì hoãn hoặc cắt bỏ và người tiêu dùng không còn mua hàng đang diễn ra ở một số nước EU. Họ ngồi chờ và xem thị trường có những bước tiến gì thì mới hành động tiếp.
Bằng việc thay đổi thói quen mua hàng
- trì hoãn việc mua sắm, mua hàng với số lượng ít...- người mua hàng
tại các nước EU đang tạo một áp lực cực "sốc" cho các nhà xuất khẩu tại
các nước đang phát triển. Thị trường hàng may mặc giờ thực sự đã phụ
thuộc hoàn toàn vào quyết định của người mua. Với khả năng đáp ứng gấp
hai nhu cầu thực tế, thì hiện giờ "cuộc chiến" tranh giành thị trường
giữa các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển đã thực sự bắt đầu.
Quản trị
Các tin khác:
▪ Ngẫm về suy thoái kinh tế thế giới (28/12)
▪ Hé mở bí mật về “Doanh nghiệp 2.0” (21/12)
▪ Lắng nghe - chia sẻ - đồng lòng (07/12)
|