Thứ tư, 28/10/2009, 18:43 GMT+7
Tái cơ cấu kinh tế - áp lực nội tại (bài 1)
Đề án tiếp tục đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn đến năm 2020 đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến. Có tới 20 giải pháp tổ chức thực hiện được khuyến nghị để đẩy nhanh quá trình này, tạo đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Bài 1: Bức tranh cơ cấu kinh tế Việt Nam

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, cần phải xác định rõ cơ cấu kinh tế được hiểu trong Đề án này là vai trò tương đối của các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế.

“Thống nhất như vậy để cùng xác định rằng, tái cơ cấu hay chuyển đổi cơ cấu kinh tế là quá trình tổ chức nền kinh tế, làm thay đổi cơ cấu kinh tế hướng tới một nền kinh tế hiệu quả hơn”, ông Cung phân tích và khẳng định, đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi có tính hệ thống trung và dài hạn, thiết lập nên một cơ cấu mới về phân bố và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế một cách hợp lý và hiệu quả hơn.

Các bước chuyển dịch

Phải khẳng định rằng, cơ cấu ngành kinh tế trong thời gian qua đã biến đổi tích cực. Thành quả rõ nét nhất chính là những thành tựu đáng kể mà Việt Nam đã đạt được trong hai thập kỷ qua, nhất là từ năm 2000 đến nay.

GDP bình quân đầu người đã tăng hơn 10 lần, từ mức dưới 100 USD/người vào năm 1990 lên trên 1.000 USD/người vào năm 2008. Việt Nam đã thoát khỏi nước “nghèo và kém phát triển” để được xếp vào hàng các quốc gia và vùng lãnh thổ có thu nhập trung bình thấp.

Năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng, thế và lực của nền kinh tế đã có bước tiến vượt bậc so với 10 năm trước. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP giảm, từ 24,53% GDP năm 2000 xuống còn 22,1% năm 2008. Tỷ trọng công nghiệp đã tăng từ 36,73% GDP lên 39,73% GDP, còn tỷ trọng dịch vụ đã giảm nhẹ từ 38,74% xuống 38,17% GDP trong cùng thời kỳ.

Đặc biệt, cơ cấu lao động cũng đã chuyển biến tích cực. Trong giai đoạn 2000-2008, lao động nông - lâm - ngư nghiệp đã giảm 12 điểm phần trăm, từ khoảng 65% lực lượng lao động năm 2000 xuống còn khoảng 53% năm 2008. Lao động trên thực tế đang dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp chế biến, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, dịch vụ thương mại, quản lý nhà nước và các ngành dịch vụ khác.

Vẫn nhiều khoảng cách

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, khoảng cách giữa kinh tế Việt Nam và các nền kinh tế trong khu vực vẫn còn khá lớn. Cơ cấu kinh tế Việt Nam đang nằm giữa các nước kém phát triển và các nước mới công nghiệp hóa, còn khoảng cách khá lớn so với Thái Lan và Malaysia, cách khá xa so với Hàn Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan.

Mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam theo sức mua tương đương so với mức trung bình của các nước Đông Á và Thái Bình Dương vẫn tiếp tục doãng ra.

Ông Cung thẳng thắn phân tích, xét về chất lượng, tăng trưởng kinh tế ở nước ta cho đến nay chủ yếu là theo “chiều rộng”, dựa vào gia tăng quy mô tài sản cố định và số lượng lao động; còn tác động của những nhân tố như đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động... là chưa đáng kể.

Cụ thể, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào các ngành có lợi thế về tài nguyên và lao động chi phí thấp. Trong số 112 ngành kinh tế quốc dân, thì chỉ có 26 ngành có đóng góp từ 1% GDP trở lên (chủ yếu là những sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và khai khoáng, các sản phẩm công nghiệp sơ chế và dịch vụ phục vụ tiêu dùng thâm dụng nhiều lao động phổ thông). 21 sản phẩm có đóng góp từ 0,5 đến dưới 1% GDP thì chủ yếu là sản phẩm sơ chế, nguyên liệu và một số dịch vụ. Chỉ có 5 sản phẩm công nghiệp chế biến gồm ô tô, xe máy, xe đạp và phụ tùng, các phương tiện vận tải khác, máy móc thiết bị điện và dệt.

Đáng nói là hiệu quả của các ngành kinh tế hiện còn thấp, chậm được cải thiện và thậm chí đang có xu hướng giảm.

Ông Cung cho biết, các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho thấy, tỷ trọng giá trị gia tăng trung bình của tất cả các ngành/tổng sản lượng đã giảm từ khoảng hơn 45% năm 1999 xuống còn khoảng 41% năm 2007. “Nếu tính cùng thời điểm phát triển tương đương, thì tỷ trọng này của nước ta thấp hơn của Trung Quốc (năm 1998) và Indonesia (năm 1999) tương đương với Philippines (năm 1994) và Thái Lan (năm 1986)”, ông Cung phân tích.

Cùng với đó, trong mấy năm qua, vốn đầu tư đóng góp ngày càng nhiều hơn vào tăng  trưởng kinh tế, năm 2007 là 60%. Hệ số ICOR tăng lên liên tục từ năm 2000, đến nay đã cao hơn khá nhiều so với Hàn Quốc trong thời kỳ phát triển tương đương.

Hệ số co giãn việc làm của nền kinh tế giai đoạn 2000-2007 là 0,38, nghĩa là khi GDP tăng thêm 1%, thì số việc làm tăng thêm được 0,38%. Hệ số co giãn này ở nước ta thấp hơn so với một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác.

Như vậy, tăng trưởng chưa tạo ra lợi ích tốt nhất có thể được thông qua tạo thêm nhiều hơn số việc làm cho người lao động. Bình quân một lao động trong công nghiệp chế biến ở nước ta chỉ tạo ra được 3.557 USD giá trị gia tăng, bằng một nửa của Trung Quốc, 1/3 của Indonesia, 1/4 của Thái Lan và Philippines và 1/5 của Malaysia.

Việc tăng trưởng thiên về chiều rộng, dựa nhiều vào gia tăng số lượng đầu tư, đóng góp của lao động và năng suất nhân tố tổng hợp còn hạn chế rõ ràng đã làm phát sinh một số hệ lụy có tính cơ cấu đối với thu nhập của người lao động và tiêu dùng nội địa.

Đặc biệt, các chuyên gia khẳng định, những mất cân đối khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các biến động bất thường của kinh tế khu vực và thế giới, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô. Thêm nữa, dư địa cho các chính sách can thiệp của Chính phủ cũng không nhiều và rộng như một số nước khác. Diễn biến thực tế của kinh tế Việt Nam từ cuối năm 2007 đến nay là minh chứng khá rõ nét cho nhận định này.

Bài 2: Sức ép năng lực cạnh tranh và cơ cấu thành phần kinh tế

bantinsom.com ( theo baodautu )