|
Leo lét ngành điện tử
Qua thời huy hoàng, ngành sản xuất, lắp ráp điện tử trong nước giờ đây đang phải cạnh tranh một cách nhọc nhằn với sản phẩm nhập khẩu và chật vật khắc phục những bất ổn nội tại.
Khi sản phẩm chiến lược là ti vi (bóng đèn hình) không còn vị trí thống lĩnh nữa, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp điện tử trong nước hiện đang rơi vào cảnh “cháy leo lét”. Giấc mơ đi tắt đón đầu để trở thành một cường quốc trong sản xuất phần cứng của công nghiệp điện tử của các doanh nghiệp Việt Nam đã trở nên xa vời. Người tiêu dùng Việt Nam dù có yêu nước cũng khó có thể tìm ra cho mình một sản phẩm điện tử “made in Vietnam” thực thụ. Chủ yếu là lắp ráp… Thực tế, trong suốt một giai đoạn dài, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều xác định ti vi là sản phẩm chiến lược, nên khi “sản phẩm chiến lược” đó không còn vai trò nữa thì doanh nghiệp cũng coi như đã “chết”. Để cầm cự, nhiều doanh nghiệp điện tử đã chuyển sang lắp ráp các mặt hàng còn bán được như: đầu karaoke, loa, ampli, đầu đĩa DVD… Nhưng theo một chuyên gia trong lĩnh vực này, do đầu tư ít, chi phí thấp nên lợi nhuận của các doanh nghiệp này chẳng bao nhiêu. Số doanh nghiệp còn cầm cự được, có sản phẩm tiêu thụ trên thị trường chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Có thể nói giai đoạn gọi là ăn nên, làm ra của các doanh nghiệp trong nước - là giai đoạn mà hàng rào bảo hộ về thuế vẫn còn tồn tại - đã qua. Và do thỏa mãn với lợi nhuận có được mà không có định hướng chiếm lĩnh công đoạn nào đó trong chuỗi giá trị hàng điện tử nên ngành công nghiệp điện tử Việt Nam hiện được xem là “số không”. … làm sao cạnh tranh với hàng nhập?! Theo cam kết của lộ trình gia nhập WTO, từ 1/1/2009 Việt Nam mở cửa hoàn toàn cho hàng điện tử nước ngoài nhập vào với thuế nhập khẩu thấp (0/5%). Tuy nhiên, không cần chờ tới thời điểm này mà ngành sản xuất lắp ráp điện tử của Việt Nam đã “thua” từ trước đó. Điểm trên thị trường, những nhãn hiệu ti vi do các doanh nghiệp trong nước sản xuất như Darling, Belco, Favi (của Viettronic Tân Bình), SAM… giờ chỉ còn bán ở các tỉnh, các huyện xa, nơi khách hàng không có nhiều lựa chọn về mẫu mã, nhãn hiệu và giá cả. Tổng thư ký Hiệp hội điện tử Việt Nam, ông Trần Quang Hùng cho biết, sau thời kỳ lắp ráp sản phẩm điện tử tiêu dùng phục vụ thị trường trong nước (1994 - 2000), gần 300 doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực này (tính cả các doanh nghiệp FDI) đã chuyển qua lắp ráp sản phẩm công nghệ thông tin, phụ tùng linh kiện điện tử, máy tính phục vụ xuất khẩu. Vì mức lợi nhuận hấp dẫn từ việc gia công, lắp ráp các sản phẩm điện tử xuất khẩu, các doanh nghiệp điện tử trong nước đều chọn hướng đi này và hầu như rất ít doanh nghiệp chọn đứng chân lại tại thị trường nội địa, hay tìm cách lách vào những phân khúc thị phần còn ít cạnh tranh (như hàng điện tử giá rẻ, bán cho những thị trường bình dân và xa các trung tâm nhập khẩu lớn). Đến khi giai đoạn xuất khẩu khó khăn, muốn quay trở lại nội địa, các doanh nghiệp trong nước lập tức bị “vấp”. Sản phẩm của các hãng nước ngoài không những thuận lợi hơn về giá cả, kỹ thuật, mà còn hơn cả về hệ thống phân phối. Chẳng hạn ở Việt Nam, Sony hiện tại có 180 nhà phân phối trên toàn quốc, là điều các nhà sản xuất Việt Nam khó đạt được. Tương tự như vậy, Samsung, LG, Panasonic… cũng đều có hệ thống chặt chẽ, đều khắp. Trong khi đó, giá thành sản xuất ở Việt Nam cũng không còn rẻ so với các nước trong khu vực. Việt Nam không có sản phẩm nào đặc biệt nên yếu thế trong việc cạnh tranh với hàng nhập.
Ở phân khúc hàng giá rẻ, các sản phẩm nguyên chiếc từ Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Indonesia… đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường với những cái tên rất lạ như điện thoại di động eTouch, E-talk, loa vi tính Bazôka, Masuki, các loại tivi, tủ lạnh, máy vi tính hiệu Aquabeat Plus, Lafen… Chỉ vài trăm ngàn đến 1 - 2 triệu đồng là có một sản phẩm. Còn từ 5 - 10 triệu đồng đã có những sản phẩm điện tử cao cấp, đa chức năng. Phát triển công nghiệp phụ trợ: không dễ Khi sản xuất gặp khó khăn, các liên doanh sản xuất lắp ráp hàng điện tử lập tức ngừng sản xuất và chuyển sang nhập khẩu và phân phối sản phẩm nguyên chiếc. Đơn cử như Sony Việt Nam. Cũng theo cách này, nhiều doanh nghiệp trong nước đã tìm cách chuyển hướng như lựa chọn sản xuất, kinh doanh những sản phẩm không đối đầu trực tiếp với những hãng sản xuất lớn có hàng nhập vào Việt Nam, tận dụng được nguồn nhân lực. Chẳng hạn Công ty cổ phần điện tử Tân Bình sắp tới đây sẽ thu hẹp dần mặt hàng tivi mà đầu tư sang điện lạnh, phần mềm, máy tính và dịch vụ. Tuy nhiên, hướng đi này cũng được xem là “gian nan” bởi doanh nghiệp trong nước khó có thể cạnh tranh được với các hãng lớn với hệ thống đại lý bán hàng phủ khắp toàn quốc và tiềm lực kinh tế dồi dào hơn hẳn. Theo TS Trần Quang Hùng, doanh nghiệp Việt Nam có thể chọn hướng đi là công nghiệp phụ trợ, đây là lĩnh vực đang có nhu cầu rất cao nhưng hiện trong nước còn rất thiếu. Còn nếu sản xuất ra sản phẩm để sử dụng phải tạo ra được sản phẩm mới thì mới tránh được thất bại do phải đối đầu với sản phẩm nhập ngoại. Thế nhưng, để tham gia vào ngành công nghiệp phụ trợ lại chẳng phải là một điều dễ dàng đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Chỉ đơn cử những yếu tố như công nghệ sản xuất, vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao không thôi thì đã thấy ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam, ít nhất là trong vài năm tới, sẽ vẫn còn leo lét. Xem ra, lời hiệu triệu “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” đối với ngành này vẫn còn là một câu chuyện quá xa vời! bantinsom.com ( theo DDDN )
Các tin khác:
▪ Tuần lịch sử của giá vàng (10/10)
▪ Liên thông sàn: lợi cho cả ba bên (08/10)
▪ EC tài trợ 1,6 triệu Euro hỗ trợ DNNVV (06/10)
▪ Giá sữa ngoại cao hơn sữa nội 46% (05/10)
|