|
Giới kinh tế học và trách nhiệm giải trình
Nhiều nhà kinh tế học người Mỹ rất đáng khiển trách vì một sự tự tin thái quá. Không ít các ý tưởng kinh tế không được lý giải và không được khẳng định bằng thực nghiệm đã tạo ra nền tảng chính sách dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong 75 năm qua.
Cho rằng các nhà kinh tế học xúi giục sự phát triển “vũ khí hủy diệt hàng loạt tài chính” phải đối mặt với trách nhiệm giải trình trước tòa án dư luận, giống như chính quyền Bush từng phải giải trình về vũ khí hủy diệt của Iraq, hai tác giả Francis Fukuyama & Seth Colby đã phân tích hậu quả của những “lời khuyên tồi” và các động cơ cá nhân của một số nhà kinh tế học phương Tây. Tuần Việt Nam xin giới thiệu phần cuối bài viết của hai tác giả trên đăng trong tạp chí American Interest số ra tháng 9-10/2009. Ý tưởng và lợi ích
Người
Mỹ tự hào là những người thực dụng, không bị ràng buộc bởi các sơ đồ ý
tưởng lớn mà người châu Âu từ lâu bị nhiễm. Nhưng trong thế hệ trước,
người châu Á đã chứng tỏ mình còn thực dụng hơn cả người Mỹ - họ thử
mọi cái để xem liệu các chính sách có hoạt động tốt hay không (trong đó
có tự do hóa tài chính) và hủy bỏ chúng ngay khi không hiệu quả. Trong khi đó, người Mỹ tỏ ra cực kỳ cứng nhắc trong suy nghĩ kinh tế, nói đúng ra là quá lý tưởng hóa. Điều này đúng không chỉ với những người ủng hộ trong đảng Cộng hòa vốn thích một dạng khác của trào lưu thị trường chính thống, mà còn đúng với các nhà kinh tế học hàn lâm vốn cung cấp các nền tảng trí thức cho xu hướng tự do hóa thị trường mạnh hơn. Ngay từ đầu, sự thay đổi nhằm tới các nền kinh tế tự do hóa bắt đầu từ cuối những năm 1970 đã là một phản ứng hoàn toàn thực dụng sau gần 50 năm can thiệp của nhà nước trong chính sách quản lý kinh tế. Nhưng nền tảng trí thức rộng hơn để chứng minh cho tự do hóa – ý tưởng cho rằng các thị trường sẽ tự điều tiết, và điều này sẽ đúng trong tài chính cũng như các lĩnh vực khác của nền kinh tế - gắn liền với một niềm tin mạnh mẽ rằng tự do hóa tự nó sẽ diễn ra khi thực tế đòi hỏi. Nhiều nhà kinh tế học lên nắm quyền đã thấy tài chính như một chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn tới các lợi ích lớn. Cựu chủ tịch ban giám đốc của Fed, Federico Mishkin, tuyên bố: “Cách duy nhất để các nước nghèo đuổi kịp các nước giàu là khuyến khích nguồn vốn nhằm cung cấp cho các mục đích sinh lời nhất của mình”. Mối quan tâm lớn của các nhà kinh tế học đối với các lợi nhuận tiềm năng của tài chính đã khiến họ bỏ qua những nguy cơ cố hữu của lĩnh vực này. Một số quan sát viên, trong đó có cựu giám đốc kinh tế IMF Simon Johnson, đã đổ lỗi vụ lobby Phố Wall cho sự thay đổi lãnh đạo kinh tế học chuyên ngành. Trong chu kỳ bầu cử 1997-1998 trước khi thông qua Luật Gramm-Leach-Bliley, lĩnh vực tài chính, bảo hiểm và bất động sản thật đã chi hơn 200 triệu USD tiền lobby trực tiếp cho đạo luật này và bỏ ra thêm 150 triệu USD nữa cho các quỹ tranh cử. Tuy nhiên, tác động của Phố Wall đến các nhà trí thức và hàn lâm dường như chỉ thoảng qua, đơn giản hơn cả việc mua cái mà họ muốn. Nhiều nhà kinh tế học và các giáo sư tài chính ở các trường kinh tế đã làm việc cho các ngân hàng đầu tư và quỹ dự phòng rủi ro đầu tư (còn gọi là quỹ hedge), giúp họ vạch ra các mô hình phức tạp nhằm chứng tỏ thích nghi với các nguy cơ được báo trước. Bằng cách này, họ đã được nhận những khoản tiền thưởng khi lĩnh vực tài chính vận hành tốt mà không phải lo nghĩ tới việc toàn bộ lĩnh vực này đang phá hủy giá trị hơn là tạo ra các giá trị.
Thực
vậy, bất cứ nhà kinh tế học nào có liên quan đến Phố Wall bị lôi kéo
bởi các khoản tiền hoa hồng nhờ làm cố vấn có một động cơ cá nhân mạnh
mẽ để tin vào tài chính tự do hóa. Năm 2007, lĩnh vực tài chính chiếm
gần 42% lợi nhuận doanh nghiệp Mỹ, tăng 19% năm 1986.
Ảnh: saga.vn
Giờ
như mọi người đều thấy, lập luận trừu tượng về một hệ thống tài chính
cạnh tranh cũng tương tự như lập luận về các thị trường cạnh tranh nói
chung... Các hoạt động trung gian sẽ sinh lời khi có hiệu quả; tức là
khi lợi nhuận đạt được lớn hơn chi phí của hoạt động. Một người có thể có ý tưởng tăng sản lượng dựa trên công nghệ mới trong một lĩnh vực dịch vụ tài chính tạo thuận lợi cho sự phổ biến hiệu quả của các công nghệ này thông qua thị trường. Nhưng hiện nay, nhìn lại các dữ liệu một cách độc lập thì thấy rõ ràng rằng việc tăng sản lượng mà chúng ta đã đạt được trong 12 năm qua đã bị lạm phát quá cao.
Cuối
cùng, niềm tin vào tính hiệu quả của các thị trường tài chính được hỗ
trợ bởi ý thức về lợi ích quốc gia. Khi các nhà kinh tế học và các nhà
hoạch định chính sách khác nỗ lực xác định các lợi thế cạnh tranh của
Mỹ trong nền kinh tế thế giới, họ thấy tài chính dựa trên tri thức là
lĩnh vực mà Mỹ có lợi thế cạnh tranh. Các nhà kinh tế học trước gương Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tạo ra một cơ hội cho các nhà kinh tế học nhìn rõ hơn nghề nghiệp của mình. Có ít nhất ba khu vực trong đó các phương pháp nghiên cứu và giáo dục hiện nay cần phải xem xét lại. Đầu tiên là sự tương tác giữa phương pháp và lý thuyết. Các khu vực mà lý thuyết kinh tế có thể kiểm tra thực nghiệm là kinh tế vi mô – tức là kinh tế học được tổ chức một cách chắc chắn. Nhưng khi các lý thuyết kinh tế vi mô đạt đến độ phức tạp của các nền kinh tế quốc gia, chưa nói tới nền kinh tế toàn cầu, thì lý thuyết thường hạn chế sự hiểu biết của chúng ta ở việc thế giới thực vận hành thế nào.
Có
vô số dạng thức tác động trở lại một cách bất ngờ và khác thường đến
tầm kinh tế vĩ mô mà các học thuyết kinh tế vi mô không thể dự báo.
Tuy
nhiên, nhiều người đã viết về các mô hình toán học sai lầm được sử dụng
tại Phố Wall để đánh giá nguy cơ nhưng không ai vạch ra được đường
hướng mà chính các mô hình này có thể được sử dụng để cung cấp một cảm
giác nhầm về độ an toàn của lĩnh vực tài chính. Ngành khoa học xã hội
nào có thể được gọi là tinh vi nếu nó bỏ qua tác động đệ quy của chính
các học thuyết của nó?
Thứ hai,
các nhà kinh tế học hàn lâm thăng tiến dựa trên khả năng của họ trong
việc xây dựng và vận dụng các mô hình lý thuyết cực kỳ trừu tượng. Tăng
một chút uy tín hàn lâm bằng cách làm công việc chính sách liên ngành.
Nhưng thực tế của vấn đề là áp dụng các học thuyết vào thế giới thực
đòi hỏi phải nắm vững nhiều kiến thức về chính trị, lịch sử và bối cảnh
địa phương. Thứ ba, một số kiến thức kinh tế học chính trị đến từ kiến thức lịch sử có thể là một trợ giúp đắc lực. Rất khó nắm giữ chức vụ chuyên gia nghiên cứu lịch sử kinh tế trong các cơ quan kinh tế Mỹ cấp cao nhất ngày nay. Chúng tay may mắn khi Chủ tịch Fed Ben Bernanke từng là một chuyên gia nghiên cứu về Đại suy thoái. Nhưng cộng sự của ông lại không nhiều người nhớ về Keynes và hiểu mọi chỗ phức tạp của việc hoạch định chính sách thời suy thoái. Các ý tưởng kinh tế không được lý giải và không được khẳng định bằng thực nghiệm đã tạo ra nền tảng chính sách dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong 75 năm qua. Không một nguyên tắc hàn lâm nào phát triển và truyền đạt các ý nghĩ về các tác động hủy diệt như vậy có một chút tư vấn lương tâm. Vấn đề cần đặt ra là: Nhiều nhà kinh tế học hiểu rõ các nguy hiểm của tự do hóa tài chính đến vậy mà sao họ lại để nó xảy ra?
Các
quan chức cấp cao trong chính quyền George W. Bush, đã lên kế hoạch và
tiến hành cuộc chiến tranh Iraq, cũng như những người ủng hộ họ từ bên
ngoài, đã đổ lỗi cho việc họ quá tự tin vào giả định Baghdad sở hữu vũ
khí hủy diệt hàng loạt, và chủ nghĩa lạc quan thái quá của họ về việc
chiếm đóng và dân chủ hóa Iraq dễ dàng và ít tốn kém. Trước tòa án dư
luận, ít nhất, họ đã đổ lỗi cho các nhầm lẫn của mình và chịu trách
nhiệm giải trình.
bantinsom.com ( theo tuanvietnam )
Các tin khác:
▪ Mô hình mới cho kinh tế Nhật Bản (05/09)
▪ Đối mặt rào cản thương mại (05/09)
▪ FED lạc quan hơn về kinh tế Mỹ (04/09)
|