|
Giới kinh tế học đã "tiếp tay" gây suy thoái toàn cầu?
Trong bối cảnh kinh tế bắt đầu phục hồi sau cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, một trong các vấn đề chúng ta cần đối mặt là vai trò của các nhà kinh tế học hàn lâm trong việc đưa ra các ý tưởng mà bây giờ nhìn lại thì thấy vừa sai vừa nguy hiểm.
Cho rằng các nhà kinh tế
học xúi giục sự phát triển “vũ khí hủy diệt hàng loạt tài chính” phải
đối mặt với trách nhiệm giải trình trước tòa án dư luận, giống như
chính quyền Bush từng phải giải trình về vũ khí hủy diệt của Iraq, hai
tác giả Francis Fukuyama & Seth Colby đã phân tích hậu quả của
những “lời khuyên tồi” và các động cơ cá nhân của một số nhà kinh tế
học phương Tây. Các nhà kinh tế học tự hào là các chuyên gia lý luận khoa học xã hội tinh vi nhất và giàu kinh nghiệm nhất. Nhưng trong trường hợp tự do hóa lĩnh vực tài chính, họ lại ủng hộ các chính sách mà trong nhiều trường hợp chính học thuyết của họ đưa ra nhiều lý do để phải thận trọng. Bằng cách này, các nhà kinh tế chuyên nghiệp đã góp phần gây ra sự suy thoái toàn cầu sâu, “cướp” đi 40 nghìn tỷ USD tiền tiết kiệm và sẽ khiến nợ công của Mỹ tăng mạnh từ mức 42% GDP có thể lên tới 60-80%.
Như
Keynes đã nhắc nhở từ cách đây rất lâu, quan điểm của các nhà kinh tế
học hàn lâm có ảnh hưởng lớn hơn nhiều quan điểm của hầu như bất cứ
nhóm giáo sư nào khác. Các nhà hoạch định chính sách áp dụng trực tiếp
học thuyết của các chuyên gia kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề trước
mắt của mình. Trong khi đó, những người không làm trong lĩnh vực kinh
tế lại buộc phải hỏi ý kiến của các nhà kinh tế học về điều cần làm vì
các học thuyết và phương pháp của họ có bản chất kỹ thuật cao. Chúng ta nghĩ điều chúng ta biết Cuộc cách mạng của Reagan-Thatcher những năm 1980 đã hợp thức hóa một sự chuyển đổi từ các chính sách kinh tế lấy nhà nước làm trung tâm sang các chính sách thị trường tự do.
Lịch
sử đã chứng minh điều này: Các nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu
quả hơn nhiều và tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với các nền kinh tế kế
hoạch hóa. Trong khi một số người chỉ trích các chuyên gia kinh tế và quan chức chính quyền quá dựa vào các cơ chế thị trường, nhiều người lại bảo vệ các hành động của họ là phù hợp với diễn tiến lịch sử. Thực vậy, một quan chức cấp cao của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã bẻ lại những chỉ trích đối với cách xử lý của quỹ này trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á: Nhân viên của IMF giờ đã tin tưởng hơn vào khả năng sử dụng các thị trường để bảo vệ lợi ích công. Điều gì đã tạo ra sự thay đổi này? Rất đơn giản: thực tế. Trong những năm 1980, kế hoạch hóa tập trung tỏ ra là một lựa chọn quan trọng như một cách tổ chức nền kinh tế. Nhưng sự tan rã của Liên Xô và sụp đổ bức tường Berlin, đối với nhiều người, đã cho thấy các thị trường bất kể có khiếm khuyết gì vẫn là một cách tổ chức nền kinh tế quốc gia bền vững hơn.
Mỹ
và Anh cũng bắt đầu những thay đổi lớn về chính sách trong thời kỳ này.
Thị trường lao động được tự do hóa trong khi các hiệp hội thương mại
ngày càng mất đi vai trò trong việc ấn định tiền lương dưới sức ép của
cạnh tranh quốc tế; thương mại toàn cầu gia tăng thông qua một số vòng
đàm phán trong khuôn khổ GATT và sau này là Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO); quyền của những chủ sở hữu bất động sản được củng cố và thuế
giảm; các ngành công nghiệp của nhà nước, như ngành thép ở Anh, đã được
tư nhân hóa; và mức độ điều tiết giảm, bắt đầu từ ngành công nghiệp
hàng không.
Trong
số các đối tượng của tự do hóa có lĩnh vực tài chính. Tự do hóa tài
chính bắt đầu được tiến hành dưới một chính quyền Dân chủ ở Mỹ năm 1980
với Luật Điều tiết và Kiểm soát tiền tệ và các thể chế ký gửi, có hiệu
lực từ năm 1986. Đạo luật này đã dỡ bỏ mức trần lãi suất vốn có thể
được thanh toán bằng ký gửi ngân hàng.
Mỗi thành phần của “các nền kinh tế thị trường tự do” nói trên đã trở thành mục tiêu bị chỉ trích, nhưng trong danh sách này, có vấn đề nhất là tự do hóa lĩnh vực tài chính. Một cơ quan lớn về nghiên cứu lý thuyết ủng hộ các tác dụng tối ưu hóa thịnh vượng của tự do thương mại, cũng như các bài học tai hại của chủ nghĩa bảo hộ trong thời Đại suy thoái. Tương tự, các ưu điểm của thị trường lao động được tự do hóa đã trở nên rõ rành rành khi tỷ lệ thất nghiệp giảm ở các nền kinh tế Anh – Mỹ trong những năm 1990 – 2000.
Nhưng,
như Jagdish Bhagwati đã lập luận trong cuốn nổi tiếng của ông về chỉ
trích tự do hóa nguồn vốn, có một “sự khác biệt giữa trao đổi hàng hóa
và trao đổi tiền tệ”. Lĩnh vực tài chính vận hành khác với các lĩnh vực
kinh tế khác.
Có
nhiều lý do chính đáng để nghi ngờ rằng lĩnh vực tài chính vốn đã bấp
bênh hơn các lĩnh vực kinh tế khác. Trong nền kinh tế thực, giá cả khó
biến động và các quyết định đầu tư thường cần một quãng thời gian dài.
Ngược lại, các tài sản tài chính lại có thể luân chuyển được và dễ thay
thế. Các đặc tính này khiến thị trường tài chính càng dễ bị tổn thương
khi kết hợp hành động với linh cảm – điều mà Keynes gọi là “các linh
hồn thú vật” trong tác phẩm của ông năm 1963. Ví dụ, khi các tài sản trong một sổ quyết toán của một ngân hàng tăng giá, bảng cân đối tài sản tăng trưởng, tạo điều kiện để ngân hàng cho vay nhiều hơn. Người đi vay sẽ sử dụng số tiền này để mua những tài sản tương tự, làm gia tăng tài sản trong bảng cân đối tài sản của ngân hàng đó và các ngân hàng khác, từ đó cho phép họ cho vay nhiều hơn nữa. Đây là một chu kỳ tự tồn tại. Sớm hay muộn, khi suy nghĩ thay đổi, mọi người cho rằng tài sản đã được định giá quá cao và bắt đầu “xả hàng”, và xu hướng ngược lại xảy ra. Kiểu hành động tự gia cố này hướng các thị trường đến sự bất cân bằng, hơn là tới chỗ cân bằng. Hơn nữa, các nhà kinh tế học hàn lâm có vô số công cụ lý thuyết, mà họ phối hợp sử dụng, nhằm nói dối quanh rằng có thể cho phép lường trước mọi vấn đề của lĩnh vực tài chính. Ví dụ, học thuyết về môi giới giả định rằng động cơ của các tác nhân (như thương gia khi nhìn thấy các khoản tiền hoa hồng trong cả năm) có thể không trùng khớp với động cơ của tác nhân chính (tức là các cổ đông của các thể chế tài chính mà họ làm việc) vì tiền bồi thường cho họ ít hơn nhiều so với nguy cơ mà họ phải đương đầu. Kinh tế thông tin, được phát triển bởi các nhà kinh tế học như Joseph Stiglitz, George Akerlof và Michael Spence, đã đặt nghi vấn về giả định nhấn mạnh các mô hình tân cổ điển chuẩn mực, theo đó các tác nhân tham gia thị trường được nhận những thông tin hoàn hảo. Kinh tế thông tin cảnh báo các hành động sai trái có thể nảy sinh trong một thế giới của kiểu tín dụng được chuyển ngay sang thị trường chứng khoán (mà người ta gọi là “originate-to-distribute”) và các kiểu tín dụng phái sinh phức tạp, mà ở đó sự bất cân xứng về thông tin là “chuyện thường ngày ở huyện”.
Và
cuối cùng, kinh tế học hành vi đã hoài nghi về các giả thiết thị trường
hiệu quả, trong đó tài sản được niêm yết trên thị trường tài chính đại
diện cho tất cả thông tin có thể được công bố. Các nhà kinh tế học như
Robert Shiller và Richard Thaler đã phát hiện rằng giá dễ bay hơi trên
các thị trường tài chính hơn là người ta nghĩ khi các biến động về giá
chỉ phản ánh sự phát hiện thông tin mới. Có vô khối các công cụ lý thuyết để chứng minh rằng có những trường hợp giá hiện tại của các tài sản tài chính không phải lúc nào cũng phản ánh giá trị thực của chúng, và các thị trường tài chính không hẳn là con đường hiệu quả để cung cấp nguồn vốn khan hiếm cho những người có thể sử dụng chúng hiệu quả nhất. Nhưng hầu như không ai có thể làm điều này. Các dấu hiệu cảnh báo đã bị bỏ qua Thôi bàn đến chỉ số Nasdaq năm 2001, điều có thể đã đưa ra các dấu hiệu cảnh báo thậm chí rõ ràng hơn là kinh nghiệm của tự do hóa tài chính. Tự do hóa vốn là cách nhằm giảm sự cản trở đối với các dòng vốn xuyên biên giới, và khi công tác kiểm tra được giảm bớt dần trong những năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, thì các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, bắt đầu từ cuộc khủng hoảng đồng bảng Anh năm 1992 đã liên tiếp nổ ra với tốc độ ngày càng tăng. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã sửa đổi Bộ luật Tự do hóa các dòng vốn, và buộc các nước thành viên thực hiện tự do hóa mọi dòng vốn vào năm 1989. Khi Mexico và Hàn Quốc muốn gia nhập câu lạc bộ hẹp này, họ đã tự do hóa lĩnh vực vốn của mình, và kết quả là cả hai nước này đã phải chịu một cuộc khủng hoảng tài chính – Mexico là cuộc khủng hoảng đồng Tequila năm 1994 và Hàn Quốc là cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Khi nhiều nhân tố cùng góp phần vào các cuộc khủng hoảng này, tự do hóa lĩnh vực vốn đóng một vai trò quan trọng.
Bất
chấp các dấu hiệu cảnh báo trên, các nhà kinh tế vẫn nhấn mạnh vào lợi
nhuận của tự do hóa vốn. Stanley Fischer, khi đó là Phó Giám đốc điều
hành thứ nhất của IMF, đã đưa ra một trường hợp lý thuyết về tự do hóa
tài chính trong một bài phát biểu tại Hồng Công giữa lúc cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á xảy ra năm 1997.
Vấn
đề là không có nghiên cứu toàn diện nào về các tác động của tự do hóa
tài chính đối với tăng trưởng kinh tế vĩ mô nhằm hỗ trợ cho nhận định
trên. Khi bằng chứng thực nghiệm bắt đầu trở thành hiện thực cuối những
năm 1990 và đầu những năm 2000, nó lại không thể chứng tỏ bất cứ mối
tương quan mạnh mẽ nào giữa tự do hóa và tăng trưởng kinh tế vĩ mô. Các
nghiên cứu thực nghiệm chứng tỏ rằng tự do hóa giúp giảm chi phí giao
dịch tài chính và lãi suất cho vay.
Cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á có lẽ đã khiến các nhà kinh tế học phải
đặt câu hỏi về lịch trình tự do hóa tài chính. Và đây chính là điều mà
các nhà hoạch định chính sách ở châu Á đã làm nhiều nhất. Chìm trong
những lời khuyên vô giá trị về việc mở cửa nền kinh tế của mình cho các
nguồn vốn nước ngoài đầu những năm 1990, hầu hết các nền kinh tế đã tự
đóng sập cửa trước ngoại tệ và cân nhắc hướng đi của các dòng vốn bằng
việc tích lũy USD nhằm bảo vệ mình khỏi sự bấp bênh của thị trường.
Các
nhà kinh tế học và các nhà hoạch định chính sách chủ chốt của Mỹ đã
phản ứng rất khác nhau trước các sự kiện này. Khẩu hiệu mới sau năm
1997 là “sự tuần tự”, tức là tự do hóa vốn phải được tiếp tục tiến
hành, song chỉ sau khi thành lập một hệ thống điều tiết tài chính. Theo
quan điểm này, sai lầm lớn của Thái Lan không phải là thúc đẩy tự do
hóa tài chính, mà là đã tiến hành việc này không kèm theo sự điều tiết
tốt của các ngân hàng.
Bất
chấp các lý thuyết của tin tức cần có sự đồng thuận mới sau khủng hoảng
châu Á, rõ ràng là các nhà kinh tế học Mỹ trong chừng mực nào đó vẫn
không xem vấn đề mày một cách nghiêm túc, bởi họ không áp thực tế này
vào thực tế của mình. Các thị trường tài chính tiếp tục mở ra khiến
lĩnh vực tài chính phình to ra nhanh hơn nhiều so với nền kinh tế thực.
Nếu
các nhà kinh tế học Mỹ nghiêm túc làm theo lời khuyên mà chính họ đưa
ra cho châu Á, họ có thể đã quan tâm đến sự xuất hiện của đám mây đen
bao phủ lĩnh vực tài chính khổng lồ và hoàn toàn không bị kiểm soát
này, và đã tìm đến các thể chế điều tiết nhằm bảo vệ chính mình và phần
còn lại của thế giới khỏi cơn bão tài chính.
Một
số người tỉnh táo đã đặt câu hỏi về các âm mưu đằng sau sự hăng hái dỡ
bỏ điều tiết này. Tháng 8/2005, ông Raghuram Rajan, khi đó là Giám đốc
kinh tế của IMF, đã có bài phát biểu tại một hội thảo thường niên của
các Thống đốc ngân hàng trung ương và các chuyên gia kinh tế cấp cao
tại Jackson Hole, Wyoming, với chủ đề: “Liệu phát triển tài chính có
làm cho thế giới nguy hiểm hơn?”.
bantinsom.com ( theo tuanvietnam )
Các tin khác:
▪ Mô hình mới cho kinh tế Nhật Bản (05/09)
▪ Đối mặt rào cản thương mại (05/09)
▪ FED lạc quan hơn về kinh tế Mỹ (04/09)
|