Người ta đang tranh cãi giáo dục có phải là hàng hoá hay không để xem xét dùng cơ chế thị trường đối xử với sản phẩm này. Sự tranh cãi này chắc khó kết thúc nếu như mỗi người cứ đứng ở vị trí của họ mà đánh giá. Những nhà giáo dục thuần tuý sẽ không bao giờ cho đây là hàng hoá vì dưới con mắt của họ giáo dục là "điều tốt" phải được cho không.
|
Nhưng khi đã nói đến giá cả, phải nói đến thị trường, và khi nói đến thị trường thì phải quan tâm đến những nguyên lý kinh tế của nó. Thực vậy, giáo dục là một hàng hoá đặc biệt cần quan tâm theo cách riêng mà cơ chế giá thị trường không giải quyết được.
Giáo dục dưới cái nhìn chung
Học tập là cách nhìn khác về giáo dục, như các nhà nghiên cứu có nói, "học tập" là để tiếp thu và tạo ra tri thức (Knowledge), trau dồi kỹ năng (Skill) và đặc biệt là để thay đổi thái độ (Attitude). Nhu cầu của 3 loại hình này tùy thuộc vào cấp độ và nhu cầu của từng nhóm đối tượng và vì thế quá trình giáo dục và đào tạo sẽ thu sếp để trang bị cho người học những yếu tố này. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất vẫn là thái độ.
Giáo dục phổ thông không chỉ nhằm đảm bảo để người ta biết đọc viết và tính toán, vài trò chủ yếu của giáo dục là giúp cho con người sẵn sàng cho cuộc sống trong xã hội, bao gồm khả năng tư duy nghiêm túc, hiểu về quyền và trách nhiệm và tôn trọng sự khác biệt. Giáo dục trang bị cho người trẻ những cách thức và hoạt động để tham gia tích cực vào cuộc sống thông qua hiểu biết và thực hành quyền hạn và trách nhiệm của họ trong xã hội. Giáo dục phải chuẩn bị cho công dân đối diện và hoà nhập với những tình huống khó khăn và bất định phù hợp với trách nhiệm và tự do cá nhân.
Kiến thức và những kỹ năng chuyên môn cao (cao đẳng và đại học) là những định tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế và mức sống bởi vì kết quả của học tập được biểu hiện qua hàng hoà và dịch vụ, năng lực của các tổ chức, khối hành chính nhà nước vận hành hiệu quả hơn, xã hội văn minh hơn, và môi trường đầu tư tốt hơn. Hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu chất lượng tốt, dựa trên những chuẩn mực rõ ràng, công bằng và hiệu quả là những thành tố của quá trình cải, tổ tạo và phát triển nguồn vốn tri thứccho xã hội. Cho dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển đều có thể thừa hưởng được thành quả của giáo dục và kinh tế tri thức. Khả năng quốc gia tiếp nhận, phổ biến, và khai thác tối ưu các tiến bộ công nghệ phụ thuộc vào hệ thống giáo dục đại học. Một hệ thống đào tào đại học cải tiến và gần gũi kết hợp với hệ thống đổi mới quốc gia có thể giúp các quốc gia đang phát triển hướng đến các thành tựu phát triển bền vững, đặc biệt là các mục tiêu liên quan đến giáo dục, sức khoẻ, và công bằng.
Như bao sản phẩm dịch vụ tiêu dùng khác, giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu của người mua dịch vụ. Vậy thì nhu cầu ấy là gì? Người ta dành thời gian, tiền bạc và cả sức lực để mưu cầu sản phẩm này để làm gì? Phải chăng để có điều kiện nở mày nở mặt? phải chăng để có điều kiện có thu nhập cao hơn? Phải chăng để hạnh phúc hơn?
Giáo dục là đầu tư
Trong cả cuộc đời người, từ lúc sinh ra cho đến khi bắt đầu đi làm kiếm thu nhập, con người này phải vay nợ từ gia đình hoặc xã hội để chi trả cho các chi tiêu của mình. Khi bắt đầu tham gia làm việc, người này bắt đầu có thu nhập và dần dần tự chi trả chi phí cho mình và có thể dư ra một phần tiết kiệm. Đến khi về già khi không còn đi làm, phần chi tiêu của họ có thể do tiết kiệm hoặc xã hội tài trợ (xem hình).
Biểu đồ 1: Mối liên hệ giữa tuổi và cá khoản: vay, tiết kệm, chi tiêu
Về mặt tổng thể, xã hội sẽ tồn tại những người vay và người tiết kiệm và họ sẽ tài trợ qua lại cho nhau. Các chính sách an sinh xã hội và bảo hiểm nhằm cân đối chi tiêu và tiết kiệm này. Nhưng cần nhận thấy rằng, khả năng tạo ra thu nhập cao hơn cho cả cá nhân và xã hội là nhờ đầu tư vào giáo dục.
Sản phẩm giáo dục có đặc tính là tiêu dùng hiện tại và mang lại giá trị trong tương lai, thời gian tiêu dùng sản phẩm kéo dài. Giá trị của giáo dục đôi khi cũng bất định nhưng tính bất định sẽ giảm bớt khi người ta làm việc và học tập nghiêm túc hơn. Đối với cá nhân, người mua sản phẩm giáo dục được tài trợ trước chi phí thông qua gia đình hoặc xã hội (thông qua tiền thuế của dân) và người này sẽ hoàn trả khi tạo ra giá trị trong tương lai. Vì vậy, khi tham gia tiêu dùng giáo dục, người này phải có niềm tin và kỳ vọng giá trị và thu nhập của mình cao hơn nhiều so với không tiêu dùng sản phẩm này. Họ bằng lòng với việc vay để đầu tư cho tương lai. Nhất là đối với giáo dục đại học, sinh viên cần phải có tự tin rằng mình sẽ có cơ hội tạo ra nhiều giá trị cho tương lai và có trách nhiệm với những khoản vay mượn của mình.
Hơn thế nữa, nơi sử dụng lao động có thể thừa hưởng thành quả của giáo dục nhưng không tham gia ngay từ ban đầu. Nếu lôi kéo được đối tượng naỳ tham gia vào trong quá trình đầu tư cho giáo dục thì gánh nặng chi phí đầu tư có thể chia sẻ.
Giáo dục là hàng hoá có ngoại ứng
Giáo dục là hàng hoá, nhưng đây không phải là hàng hoá bình thường mà là một loại hàng hoá đặc biệt và vì thế các nhà kinh tế cho rằng cơ chế thị trường khiếm khuyết khi phân bổ. Sản phẩm giáo dục cũng như bao sản phẩm khác đều có cung và cầu, nhưng có điều cơ chế thị trường sẽ không phản ảnh hết cung và cầu thực sự của giáo dục. Sản phẩm giáo dục cũng như chăm sóc sức khoẻ (y tế) tạo ra ngoại ứng và ngoại ứng này đã làm cho những sản phẩm càng trở nên phức tạp. Giáo dục mang lại lợi ích không chỉ cho bản thân người đó mà qua con người này xã hội bớt đi chi phí xã hội và đồng thời nhận thêm nhiều giá trị gia tăng. Một mặt một nền giáo dục tốt sẽ giúp giảm những tiêu cực xã hội (giảm chi phí xã hội). Nếu được giáo dục tốt, có lẽ tệ nạn xã hội sẽ ít hơn, bớt đi những "hành vi lệch chuẩn", xã hội trật tự hơn, người ta biết nhường nhịn nhau hơn. Mặt khác, nếu được giáo dục và đào tạo tốt năng suất làm việc cao hơn, thu nhập cao hơn, tạo ra nhiều giá trị cho xã hội hơn.
Biểu đồ 2: Mối liên hệ giữa cung, cầu trên thị trường
Hình trên cho thấy đường cung S và đường cầu D là của thị trường, sản lượng Q1, và giá là P1. Nhưng thực tế sản phẩm giáo dục tạo ra ngoại ứng có lợi và giá trị thực sự là đường cầu D' và sản lượng nên có là Q2. Tuy nhiên, thị trường chỉ phản ảnh lợi ích của cá nhân và chưa tính đến ngoại ứng của sản phẩm vì vậy cung cấp Q1 thấp hơn mức cần có Q2. Sự tham gia của nhà nước ở đây chính là làm sao bù đắp những thiếu hụt và đẩy đường cầu ra xa hơn và sản lượng gia tăng đến mức Q2, nhiều người được hưởng thụ sản phẩm giáo dục hơn. Yếu tố này cho thấy chi tiêu giáo dục cần được chia sẻ giữa cá nhân và nhà nước.
Hàng hoá giáo dục có đường cầu dốc
Đường cầu được định nghĩa là tương ứng với mỗi mức giá người ta sẵn sàng và có thể mua bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Đối với hàng hoá giáo dục, đường cầu dốc xuống có nghĩa là tương ứng với một mức giá, số người sẵn sàng và có thể mua khác nhau. Mọi người thường sẵn sàng mua nhưng năng lực không cho phép họ có thể mua được. Có những mức giá cao mà chỉ có một số ít người sẵn sàng mua, với giá thấp thì nhiều người sẽ mua hơn. Tuy nhiên sự khan hiếm và hạn chế về nguồn lực khó có thể cho phép cung cấp cho thị trường một cách đầy đủ nhất. Vậy làm sao có thể đáp ứng được cho toàn bộ thị trường. Trường chuyên lớp chọn, hệ A, hệ B không phải là giải pháp của giáo dục mà đó là hệ lụy của thành tích và gây ra hậu quả xấu. Hệ thống này (chuyên chọn) đã tạo ra những thế hệ suy nghĩ lệch lạc về quan hệ con người và xã hội. Lời giải cho bài toán này là "xã hội hoá" thông qua chia sẻ thị trường cho nhiều đối tác cung cấp. Có thể tách thành 2 hoặc nhiều thị trường khác nhau, khối tư nhân có thể cung cấp nhóm khách hàng chấp nhận mức giá cao, phần còn lại để khối trường công cung cấp với mức chuẩn mực yêu cầu. Để tồn tại, các tổ chức giáo dục tư "chất lượng cao" buộc phải tạo sự khác biệt, cung cấp thêm nhiều dịch vụ để làm tốt hơn mức chuẩn mà xã hội yêu cầu. Người học và gia đình có sự lựa chọn cho riêng mình tuỳ thuộc vào hoàn cảnh. Có như thế, nguồn lực của nhà nước có thể tập trung tốt hơn cho khối còn lại.
Để làm được điều này, cần khuyến khích mở các trường học tư với những chuẩn mực cao. Theo nguyên tắc thị trường nếu không có lợi nhuận thì chắc chắn khối tư nhân sẽ không tham gia. Hơn nữa, các tổ chức tôn giáo luôn sẵn sáng tham gia trong các hoạt động đào tạo này, và với đặc tính của các tổ chức tôn giáo, tính nhân văn trong giáo dục vẫn luôn là yếu tố hàng đầu. Nếu họ cung cấp chất lượng thấp hơn hoặc bằng với hệ thống trường công, khó có thể thu hút người học. Cách duy nhất để họ tồn tại là phải tăng chất lượng và tạo sự khác biệt. Tuy nhiên, công tác này chỉ làm tốt khi việc dự báo nhu cầu được thực hiện đầy đủ và minh bạch.
Chất lượng Giáo dục nhờ quy mô
Mặc dù là ngành thâm dụng lao động, nhưng đặc tính sản xuất chuẩn hoá và có những yêu cầu về chất lượng nghiêm ngặt nên quy mô có ý nghĩa cho chất lượng. Với những đầu tư lớn thích đáng thì chi phí xã hội của giao dịch này có thể giảm thiểu đáng kể. Ví dụ, nếu ngôi trường được xây dựng trên một mảnh đất đủ rộng, chi phí đầu tư ban đầu lớn thì có thể có đủ các hạ tầng cần thiết cho phát triển con người. Từ lớp học có đầy đủ trang thiết bị, bàn ghế phòng ốc đúng chuẩn, hệ thống an ninh phòng cháy an toàn, đặc biệt là các dịch vụ hỗ trợ như sân thể thao, sân chơi, công viên, giao thông thư viện, ký túc xá, canteen, siêu thị, khu vui chơi giải trí. Nếu thực hiện với quy mô nhỏ, thì khó có thể đầu tư hết các hạng mục này và chi phí đơn vị sẽ cao. Hình ảnh bát nháo của ĐHQG là biểu hiện của sự đầu tư manh múng và thiếu tính nhất quán. Một khu vực với hơn 20.000 người đủ lớn để hình thành một khu dân cư sầm uất với đầy đủ các hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Họ sẽ sống làm việc và học tập trong khu vực này trong khoảng thời gian dài nhưng dịch vụ và hạ tầng thì quá yếu kém khiến họ phaỉ tìm kiếm nơi khác.
Kết luận
Cũng như những hàng hoá khác, giáo dục và đào tạo tuân thủ quy tắc của sự lựa chọn, người mua cần có nhiều lựa chọn để quyết định sản phẩm phù hợp cho mình. Tuy thế, Giáo dục không chỉ là sự lựa chọn cá nhân mà còn là lựa chọn công, việc cân đối nguồn lực và lợi ích cá nhân và cộng đồng đòi hỏi những giải pháp phù hợp.
Dựa trên những nhận định trên, chúng ta có thể có những kết luận:
- Giáo dục là đầu tư nhằm tạo ra giá trị nhiều hơn cho cá nhân và xã hội cho tương lai, người nhận sản phẩm giáo dục thường không có khả năng chi trả và cần có sự tài trợ từ bên ngoài, có thể là gia đình, có thể là nhà nước hoặc vay mượn. Giáo dục đại học là hàng hoá cao cấp (20% người được hưởng), sinh viên cần tự tin về khả năng tạo ra giá trị của mình trong tương lai và có khả năng trả nợ một cách dễ dàng và mạnh dạn vay nợ để đi học. Khoản nợ này nên tính trên từng cá nhân người học hơn là gia đình. Nếu không tự tin, họ có thể tự mình rút lui để chọn ngành nghề khác phù hợp hơn là đầu tư thêm 5 năm học lúc này.
- Giáo dục là hàng hoá có tính ngoại ứng. Một mặt giáo dục mang lại lợi ích cho cá nhân người liên quan đồng thời qua con người này, xã hội có thể hưởng lợi từ giá trị gia tăng được tạo ra cũng như những tiêu cực có thể hạn chế khi người này được giáo dục tốt. Để hỗ trợ và đảm bảo cho nhiều người được tham gia học tập, ngân sách (tiền thuế của dân) chính là cách tài trợ bổ sung để hạn chế khiếm khuyết của cơ chế thị trường. Sự tham gia điều tiết của nhà nước là cần thiết.
- Thị trường giáo dục có phân cấp. Mặc dù giáo dục hướng đến sự công bằng, nhưng có những người sẵn sàng trả giá cao hơn để có được những giá trị khác hơn và điều này chẳng có gì sai trái. Sự lựa chọn này tạo ra thị trường mới và giúp giảm gánh nặng chi phí giáo dục cho cộng đồng và đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa giáo dục công và tư. Cần có những dự báo về nhu cầu giáo dục và đào tạo tốt qua đó giúp cho thị trường có sự chuẩn bị tốt hơn để cung cấp. Một năm có 2 triệu đứa trẻ ra đời thì cũng cần có quy hoạch để làm sao 2 triệu đứa trẻ này và những lứa tuổi khác có đủ trường lớp để học tập khi chúng đến tuổi đi học.