Thứ ba, 25/08/2009, 19:01 GMT+7
Tiếng vọng của lịch sử
Tiếng vọng của đất nước, “nước những người chưa bao giờ khuất”! Những tiếng vọng ấy đang khởi động được ý chí nhân dân, làm bùng lên sức năng động tự thân của khối quần chúng lớn lao từng làm nên lịch sử.

Trong những ngày mùa thu Tháng Tám đầy ắp kỷ niệm và gọi dậy những suy tư này, mỗi chúng ta dường như nghe thấy “Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất. Những buổi ngày xưa vọng nói về”. Đó là tiếng vọng của lịch sử: “Nước chúng ta. Nước những người chưa bao giờ khuất”[1].

Và rồi, dường như vào những ngày này, sóng Biển Đông cũng đang dập dồn những âm vang thục giục lòng người ấy. Một tài thơ nằm vắt ngang thế kỷ XIX và XX trong lời non nước đã có một tứ thơ thật hay “nước đi ra bể lại mưa về nguồn”, dung dị như ca dao và hàm lượng thông tin thì đầy ắp, mới mẻ. Một tài văn khác, Nguyễn Tuân từng viết một câu thật xúc động : “ngồi trên núi cao mùa thu, nhìn ra sóng núi tứ bề, cứ thấy nhớ biển, nghĩ về bờ biển”. Thế đấy. Cứ như những tiên tri.

Lắng nghe những âm vang của lịch sử

Nhưng ngẫm kỹ ra, đâu phải tiên tri! Nhà khoa học địa lý hàng đầu của Việt Nam, giáo sư Lê Bá Thảo, từng khuyến cáo trong một tác phẩm viết từ thập kỷ 70 thế kỷ trước: “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ… Con mắt và trái tim chúng ta vì vậy sẽ không chỉ dừng lại ở đường bờ biển thường được biểu diễn bằng một nét vẽ mảnh ở trên bản đồ: những phần đất nổi và đất nằm dưới mặt biển mà chúng ta có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ rộng lớn hơn nhiều, và chúng ta phải có ý thức rõ ràng về điều đó. Đường biên giới của ta là bất khả xâm phạm”! Đó chính là những âm vang của lịch sử.

“Nước chúng ta. Nước những người chưa bao giờ khuất”. Ảnh: myopera.com

Và rồi, “một quá khứ gần và một quá khứ xa ít hay nhiều hòa vào nhau trong sự đa dạng của thời hiện tại: trong khi một lịch sử gần chạy nhanh về với chúng ta thì một lịch sử xa lại chạy đến với chúng ta bằng những bước chân chậm rãi”.[2] Nhưng dù “gần” hay “xa”, dù “nhanh” hay “chậm ”, thì những “rì rầm trong tiếng đất” ấy vẫn có sức khơi gợi mãnh liệt nỗi niềm dân tộc.

Những tiếng vọng của “những buổi ngày xưa ấy”như nhắc nhở vận mệnh đất nước luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong tâm thế Việt Nam, kéo gần họ lại với nhau trong không gian: người sống trong nước, người định cư nước ngoài, những người lính tiền tiêu ngoài Hoàng Sa, Trường Sa muôn trùng sóng vỗ, những đồng bào chiến sĩ vùng biên cương xa khuất trong trập trùng bóng núi, gắn kết họ với nhau trong thời gian, không chỉ sẻ chia “gió thổi mùa thu hương cốm mới[1]” mà còn cùng chung nỗi xao xuyến cồn cào trong niềm suy tư về vận nước.

Phải chăng những tiếng vọng ấy đã giục giã niềm suy tư mà đôi khi những lo toan về miếng cơm manh áo hàng ngày phần nào bị chìm lấp đi. Những tiếng vọng ấy đánh thức những tiềm năng đang ngủ quên trong sâu thẳm tâm tư của nhiều con người đang bận bịu bươn chải kiếm sống. Khi những tiềm năng đang ngủ quên được đánh thức sẽ bật ra sức mạnh dời non lấp biển của khối quần chúng nhân dân đông đảo, những người thực sự làm nên lịch sử.

Chính những con người bình thường ấy hợp lực lại thành nhân dân từng biểu tỏ sức năng động tự thân làm xoay chuyển cục diện như lịch sử từng ghi nhận. Chính sức năng động tự thân của khối quần chúng đông đảo được khởi động sẽ tạo ra những đột phá mà mọi tính toán, mọi “quy hoạch” đều ngỡ ngàng. Lịch sử cho thấy rất nhiều vì dụ như vậy.

Về lịch sử, Phạm Văn Đồng có một ý rất thú vị : “Lịch sử là con người nhân với thời gian. Tôi hình dung lịch sử là một ông già đã nhiều tuổi lắm, nhưng ông già lịch sử đang dần dần trẻ lại, và qua một quá trình diễn biến đầy kịch tính, sẽ từng bước trở thành một thanh niên giàu sức sống…”[3] Đất nước của chúng ta liệu có đang trẻ lại để đủ sức gánh vác sự nghiệp của ông cha bao đời gây dựng, giữ gìn và truyền lại cho con cháu? Quá trình diễn biến đầy kịch tính của đất nước ta quả đã chứng minh sức sống kỳ lạ của dân tộc Việt Nam ta. Ông cha ta luôn luôn tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải.

Cứ vào lúc thời cuộc như dồn thế nước vào chân tường, thì cũng chính vào lúc ấy đã bật ra những đột phá. Chuyện chống đế quốc Nguyên-Mông thế kỷ XIII là một minh chứng sống động. Nhớ lại một câu trong “Bài phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu: “Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn ”**, và rằng: “Sông Đằng một dải dài ghê, Sóng xô cuồn cuộn trôi về Biển Đông, Những người bất nghĩa tiêu vong, Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.

Phải có bản lĩnh thế nào mới thấy được cái thế “nhàn” trước ba chục vạn quân xâm lược hùng hùng hổ hổ kéo sang quyết rửa nhục hai lần thất bại trước và cũng để quyết đánh thông con đường tràn xuống Đông Nam Á. Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy theo đường Lạng Sơn kéo vào, đạo quân do Ái Lỗ chỉ huy xuôi theo sông Hồng, đạo quân do Ô Mã Nhi với 600 chiến thuyền theo sông Bạch Đằng tiến vào hội quân ở Vạn Kiếp!

Kết cục thế nào, lịch sử ghi chép rành rành tưởng không phải nhắc lại nhiều, chỉ xin gợi ra một đoạn trong Đại Việt Sử ký toàn thư : “Khi Thánh Tông vờ bảo Quốc Tuấn rằng: “Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi”. Quốc Tuấn trả lời “[Bệ hạ] chém đầu tôi trước rồi hãy hàng. Chính ý chí ấy, khí phách ấy khiến cho vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân chống giặc đã thấy ra cái thế “nhàn” và sự sụp đổ không thế tránh khỏi của thế lực ngoại xâm.

Sử còn chép rằng, Hưng Đạo vương được nhân dân suy tôn là bậc Thánh, Đức Thánh Trần, “hễ có tai nạn dịch bệnh, người ta đến cầu đảo ở đến thờ ông. Mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thăng lớn”. Huyền thoại hay là lòng dân? C.Mác từng lập luận “con người tự khẳng định mình trong thế giới đối tượng không phải chỉ trong tư duy mà bằng tất cả các cảm giác”[4]. Đấy là chuyện “lịch sử xa”.

Cuộc cách mạng xác lập nền dân chủ

Cách mạng Tháng Tám mở đầu cho một giai đoạn mới của lịch sử:
giữ vững nền độc lập để xây đắp nền dân chủ cộng hòa, đem lại tự do và
hạnh phúc cho nhân dân. Ảnh tư liệu.

Còn chuyện “lịch sử gần” thì xin gợi lại Cách mạng Tháng Tám 1945, kết thúc một giai đoạn đen tối của một trăm năm nô lệ, đến cái tên nước cũng đã bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới để thay vào một xứ của Đông Dương thuộc Pháp, một nước Đông Pháp! Những ngày cận kề với 19 tháng 8 năm 1945, mây đen bao phủ bầu trời, đê sông Hồng vỡ, nước ngập trắng xóa cả sáu tỉnh đồng bằng, dịch tả hoành hành, người chết đói nằm la liệt bên vệ đường, bọn phản động quậy như dòi trong cơn cùng quẫy với lũ quan thầy. Bao nhiêu tai họa của một chế độ mục ruỗng như cùng đổ ập xuống. Thế nhưng, Cách mạng đã như một tiếng sét xua tan đám mây đen, cả dân tộc như được hồi sinh, trỗi dậy.

Thế rồi, cách mạng Tháng Tám mở đầu cho một giai đoạn mới của lịch sử: giữ vững nền độc lập để xây đắp nền dân chủ cộng hòa, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Tiến trình lịch sử 64 năm qua, bằng sự trải nghiệm qua những khúc tráng ca đầy khí thế và những đoạn bi ca không kém phần xót xa, người ta ngộ ra được một chân lý : lịch sử thật hào hùng và cũng thật nghiệt ngã.

Những thế lực đen tối không dễ dàng buông miếng mồi cho dù khó nuốt. Thực dân Pháp quay lại, bọn Tàu Tưởng kéo sang, lũ tay sai theo đóm ăn tàn cọ quậy kiếm chác. Vừa mới hưởng không khí độc lập được vỏn vẹn 3 tuần lễ, ngày 23 tháng 9 năm 1945 nhân dân Nam Bộ đã mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại để từ ngày 19.12.1946 thì cả nước đi vào cuộc chiến đấu để dẫn đến trận Điện Biên, tuyên bố sự cáo chung chủ nghĩa thực dân cũ, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa.

Nhưng, sự thách đố nghiệt ngã không dừng lại đó! Mình còn đầy thương tích sau 9 năm chiến tranh, cả dân tộc ta lại phải bước tiếp cuộc trường chinh “chống Mỹ cứu nước”. Lớp cha trước, lớp con sau lại tiếp tục khúc quân hành, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, non sông quy vào một mối.

Giá trị của Đổi Mới

Và rồi, sự nghiệt ngã đến oái oăm của lịch sử lại diễn ra: từ đỉnh cao của thắng lợi buổi ấy, không mấy ai có thể nghĩ rằng đất nước lại phải mấp mé bên bờ vực của sự sụp đổ nếu không có Đổi Mới. Bắt tay vào xây dựng mới lại ngộ ra được một điều mà trầm tĩnh suy ngẫm thì hóa ra rất cũ : xây dựng khó hơn phá bỏ rất nhiều. Chẳng những khó mà còn bội phần gian truân.

Câu nói của Bác Hồ dạo nào “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” ngẫm kỹ ra, mới thấy hàm lượng của sự gian truân ẩn chứa trong đó thật bội phần cam go mà nếu những đầu óc cạn nghĩ có khi chưa thấu được hết chiều sâu của tư tưởng ẩn chứa trong đó! Điều mà tầm mắt Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước và chỉ ra ngày 17.10.1945, tức là 45 ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, được chứng minh sống động trong hơn sáu thập kỷ vắt ngang hai thế kỷ từ những ngày xây dựng CNXH ở Miền Bắc và hơn ba mươi năm sau ngày 30.4.1975 lịch sử!

Sẽ càng thấm thía hơn điều đó khi hiểu thêm câu nói của Nelson Mandela, người phá bỏ chế độ A-pác-thai, anh hùng dân tộc của Nam Phi : “Chúng ta chưa có tự do, chúng ta mới giành được quyền tự do để có tự do”. Bao xương máu đổ ra để “giành được quyền tự do để có tự do”, nhưng để có tự do thực sự còn là một quá trình chiến đấu không kém phần cam go, mà có khi còn cam go bội phần. Bởi lẽ, phá bỏ tuy khó, song xây dựng thì khó hơn rất nhiều. Đó là chân lý cuộc sống.

Ảnh: myopera.com

Thực tiễn của tiến trình xây dựng đất nước trong hơn một phần ba thế kỷ qua kể từ 30.4.1975 đến nay đã khiến cho nhận thức của nhiều người, “qua một quá trình diễn biến đầy kịch tính”, đến gần được với chân lý cuộc sống ấy.

Chân lý ấy soi tỏ những gian truân vất vả để có thể “hưởng được hạnh phúc tự do” sau khi đã giành được độc lập, điều kiện tiên quyết để tiếp tục cuộc phấn đấu cho dân chủ và tự do nhằm đạt tới cuộc sống hạnh phúc. Chính vì thế, “để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này … cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi… cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”, đây là lời căn dặn của Bác Hồ trong Di chúc.

Để có thể dựa vào lực lượng của toàn dân thì phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân. Đây là sứ mệnh của văn hóa. Quyết bứt lên khỏi thân phận của một nước kém phát triển với mức sống của đại bộ phận dân cư vẫn còn thấp và quá thấp, thì dồn sức phấn đấu cho sự tăng trưởng kinh tế là đòi hỏi sống còn.

Nhưng để đất nước phát triển một cách bền vững đúng như những tiêu chí mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên Tuyên ngôn Độc lập, thành lập nhà nước Cộng hòa với mục tiêu độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc, thì phải cần đến văn hóa.

Về điều này, Phạm Văn Đồng có một khẳng định : “Đổi mới phải bắt nguồn từ, và bắt rễ từ mảnh đất văn hóa”, vì vậy mà nói “văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa”.

Theo ông: "
Nói văn hóa là gợi , là mở, là không thỏa mãn cái đã có, là đi tìm chân trời, mà tìm không thấy đâu, vì đi tới thì nó lại lùi xa…Văn hóa là đi tìm chân trời…Làm thế nào? Sau chúng ta một hai năm thế kỷ, con cháu chúng ta sẽ đoán định.

Chúng ta không nóng vội, nhưng tiếp tục làm, làm ở đâu cũng được, đừng có sợ, đừng có sợ một chút nào những ý kiến khác nhau! Nếu tất cả giống nhau thì xã hội thật là buồn. Ai không chấp nhận được điều này là vô văn hóa, phản văn hóa. Và những người này không thiếu đâu. Và điều đó dễ hiểu. Vậy chúng ta sẽ tiếp tục
”. [5]

Quả thật, để ông già lịch sử “dần dần trẻ lại” phải cần đến sức mạnh của văn hóa. Phải chăng, vào những ngày lịch sử đang ghi nhớ này, những lời trên cũng là những “tiếng vọng của lịch sử”, tiếng vọng của đất nước, “nước những người chưa bao giờ khuất”! Những tiếng vọng ấy đang khởi động được ý chí nhân dân, làm bùng lên sức năng động tự thân của khối quần chúng lớn lao từng làm nên lịch sử. Lịch sử đang và sẽ được viết tiếp.

  • Tương Lai

[1] “Đất nước”, thơ của Nguyễn Đình Thi
[2] F.Braudel “Tìm hiểu các nền văn minh” >XBKHXH Hà Nội 1992, tr.33
[3] Phạm Văn Đồng. Quá khứ, Hiện tại và Tương lai NXBST. Tập 1. Hà Nội 1991. tr.30,
[4] C.Mác và Ph Angghen Toàn tập. Tập 42. NXBCTQG Hà Nội 2000 , tr. 175
[5] “Văn hóa và Đổi Mới” Tác phẩm và Bình luận. Bộ Văn hóa Thông tin., tr.3, tr.119, tr.120 và tr.121

bantinsom.com ( theo tuanvietnam )
Bài được nhiều người đọc
Sách xưa không bao giờ cũ