5. Vấn đề linh hồn : Trong lịch sử triết học tôn giáo, nổi bật lên các học thuyết về linh hồn như sau:
|
a) Thuyết hiện tượng phụ đới
Hiện Tượng Phụ Đới (Epiphenomenalism)
là học thuyết phủ nhận sự tồn tại độc lập của tâm trí và linh hồn, cho
rằng thể xác là thực thể hiện hữu duy nhất, rằng tâm trí và linh hồn
chỉ là hiện tượng phụ (những sản phẩm phụ có tính dễ biến đổi , phù du
và vô thường, hay chỉ là hoạt động chức năng của thể xác vật chất), chỉ
hiện hữu khi thể xác còn tồn tại.
Luận điểm chủ đạo của học
thuyết này xuất phát từ một môn Tâm lý học ứng xử do John B, Watson
cùng một số nhà tâm lý học hiện đại đề ra. Các học giả ấy cho rằng nhận
định và đánh giá hành vi ứng xử là phương pháp hiệu quả và khoa học
nhất đối với các biểu hiện tâm lý, rằng phải quy kết các hoạt động thần
kinh cho cơ chế phản xạ và thể trạng tâm sinh lý. Họ kết luận rằng chỉ
có thể xác và vật chất là thực sự tồn tại, linh hồn hay tinh thần chỉ
là các hoạt động mang tính chức năng mà thôi. Cuối cùng, Thuyết Hiện
Tượng Phụ Đới bác bỏ mọi khả năng tồn tại của cuộc sống sau khi chết,
cho rằng sự sống vĩnh hằng là một dạng ảo tưởng phi thựuc tế của con
người.
b) Thuyết tương hỗ (Interactionism)
Đặt
niềm tin vào sự thực hữu độc lập của thể xác lẫn linh hồn, những người
theo Thuyết Tương Hỗ không phân định sự khác biệt giữa tâm trí và linh
hồn. Phản bác lập luận Hiện Tượng Phụ Đới, Sigmund Freud và Carl Jung27
c) Thuyết Thực Thể ( Substantialism)
Quan
niệm về con người như một thực thể ba ngôi (triune), Thuyết Thực Thể
được các triết gia Công giáo và một số tôn giáo khác thừa nhận. Họ phân
biệt rõ ràng ba ngôi của thực thể con người: thể xác (bao gồm cả bộ
não), tâm thức (chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động và kinh nghiệm tinh
thần) và linh hồn (theo Thánh Thomas Aquinas, đó là nguyên lý thống trị
hoạt động lý trí của con người) Về phần mình, Borden Parker Bowne nhận
định linh hồn là thể hợp nhất của hoạt động tinh thần. Ngược lai, Thánh
Aquinas cho rằng trí tuệ giác của con người là "tinh linh" (soul substance) là thực thể bất tử hay "thần ngã" (spiritual self), một thể có thuộc tính được xem là gần gũi với bản chất của Thượng Đế hơn cả.
đã chứng minh rằng tinh thần có ảnh hưởng sâu sắc đến thể xác vật chất,
đôi khi có thể khiến cơ thể suy sụp hay mắc phải bệnh hiểm nghèo. Ngày
nay, hiệu lực của các loại kiệu thần kinh đối với các chứng bệnh như:
lở loét, tim mạch, thấp khớp, v.v.... chính là bằng chứng hỗ trợ cho
quan điểm nối trên của Thuyết Tương Hỗ. Thực ra, phương pháp luận của
Thuyết Hiện Tượng Phụ Đới là con dao hai lưỡi. Nếu chỉ vì chịu sự chi
phối của thể xác mà tinh thần không được xem là một thực thể tồn tại
độc lập, sự kiện thể trạng vật chất chịu ảnh hưởng của năng lực tinh
thần sẽ dẫn đến kết luận rằng thể xác chỉ là hiện tượng, không thực hữu.
6. Mối quan hệ giữa thinh thần và thể xác
Mối
quan hệ giữa tinh thần và thể xác là vấn đề xưa cũ và dai dẳng nhất
trong lịch sử triết học của nhân loại. Hiện nay, mọi người đều biết
rằng tinh thần có ảnh hưởng đến thể xác (lo lắng sinh ra bệnh tật) và ngược lại (uống quá nhiều rượu gây ra các chứng rối loạn thần kinh).
Tuy nhiên, mặc dù các mối tương tác thể xác và tinh thần liên tục diễn
trong đời sống con người, chưa có một triết gia, nhà tâm lý học hay y
sĩ nào có khả năng xác định chính xác thời điểm và cơ chế vận hành của
chúng.
a) Nhị Nguyên Siêu Hình luận (Metaphysical Dualism)- Thuyết Ngẫu Nhiên (Occasionalism)
Triết
gia duy lý người Pháp René Descartes quan niệm vật chất và tinh thần
(thể xác và tâm linh) là hai thực thể riêng rẽ, khác biệt và thực hữu
theo cách riêng của chúng. Sự kiện chúng vận hành hoà hợp với nhau đã
nẩy sinh ra một vấn đề :"Làm thế nào mà hai thực thể không có đặc điểm chung nào lại có thể phối hợp hoạt động một cách nhịp nhàng như thế?"
Thoạt đầu, Descartes và các học giả ủng hộ ông đã cho rằng tuyến yên (pineal gland)
trong bộ não chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động của thể xác và tinh
thần. Tuy nhiên, kết luận ấy chỉ nhận được ít tiếng vang rồi nhanh
chóng chìm vào quên lãng. Trường phái Descartes cũng quy kết nguyên
nhân của mọi hoạt động tương hỗ ấy cho ý nguyện của Thượng Đế, Đấng có
quyền năng ban phát cho muôn loài các năng lực cầng thiết cho cuộc sống
của chung. Xét theo quan điểm đó, những nguyên nhân phức hợp về mặt thể
chất không phải là căn nguyên thực, Thượng Đế chính là căn nguyên duy
nhất và tối hậu của mối tương tác giữa tinh thần và thể xác. Quan điểm
này còn được biết đến với cái tên Thuyết Ngẫu Nhiên.
Thực tế
các triết gia tiên phong của Thuyết Ngẫu Nhiên, Arnold Geulinex và
Nicoli Malebrache, không để lại ảnh hưởng đặc biệt trong nền triết học
hiện đại. Tuy nhiên, ngày nay một số triết gia của chủ nghĩa Nhân Vị
(Personnalism) đã sử dụng Thuyết Ngẫu Nhiên để bổ túc cho học thuyết
của họ. Triết gia nhân vị Albert Cornelius Knudson (1873-1953) đã nhận
định: " Thuyết ngẫu nhiên tìm được ý nghĩa của nó trong vài trò ấy
(bổ túc cho học Thuyết nhân vị ), hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát
triển tri thức của thời đại. Thực chất, vô sản không nhận thấy được sự
hiển hiện tâm linh nơi mỗi một hình thái vật chất. Bởi lẽ nếu như không
thấy được linh tánh nơi muôn vật, mọi sự được xem xét theo hướng quy
nguyên về hành vi thần thánh, bỏ qua vai trò của những linh hồn tinh
thần độc lập."28
Thực tế, chúng ta có thể nhận
ra rằng rất nhiều triết gia thời cổ đại, bao gồm cả Aristotle, cũng như
thời hiện đại, chia sẻ phần nào quan điểm của Thuyết Ngẫu Nhiên trong
nỗ lực quy kết căn nguyên tối hậu cho sự chi phối của thần thánh.
b) Thuyết Tâm Vật Song Lập (Psychophysical Parallelism)
Thuyết
này nhấn mạnh rằng, mặc dù thể chất và tinh thần là hai thực tại không
tác động qua lại với nhau, mỗi một thay đổi về mặt tinh thần đều có một
sự thay đổi tương ứng về mặt thể chất, và ngược lại. Theo lời của
Benedict Spinoza, người cổ xuý tích cực nhất cho quan điểm này, "trật tự và sự nối kết của tư tưởng chẳng khác gì trật tự và sự nối kết của vật chất"29
Theo
học thuyết này, mối quan hệ giữa tinh thần và thể chất so sánh với hai
mặt của cùng một tờ giấy: Những gì tác động đến bất kỳ mặt nào cũng ảnh
hưởng đến tờ giấy, bất kỳ điều gì tác động đến tờ giấy đều ảnh hưởng
đến cả hai mặt của nó. Tương tự, điều gì tác động đến tinh thần sẽ có
ảnh hưởng tương ứng đối với thể chất và ngược lại.
c) Thuyết Hoà Hợp Tiên Định (Preestablished Harmony)
Gottfried
Wilhelm Leibniz hình thành một học thuyết cho rằng sự tương tác giữa
tinh thần và thể xác chỉ là hiện tượng phản ánh sự Hoà Hợp Tiên Định mà
Thượng Đế đã ban cho. Theo quan điểm của Leibniz, tinh thần và thể xác
vận hành như thể chúng tương tác với nhau và nhận thức được như nhau,
tuy nhiên sự tương tác ấy chỉ là hiện tượng hay ảo giác mà thôi. Vật
chất và tinh thần chỉ vận hành theo bản chất và cấu trúc chỉ của riêng
chúng, đồng thời tạo ra một ấn tượng hoà hợp khiến ta liên tưởng đến
một mối quan hệ tương tác. Quan điểm này có thể được minh hoạ qua hình
ảnh năm toà nhà nằm cạnh nhau, được xây dựng và hoàn tất đồng thời. Mặc
dù có vẻ hoà hợp với nhau, thực ra mỗi toà nhà vẫn tồn tại hoàn toàn
độc lập với nhau.
d) Thuyết Quyền Năng Thần Thánh
George Berkeley (1685-1753)30 triết
gia kinh nghiệm (Empiricist) Anh, nhận định rằng mặc dù các đối tượng
tự nhiên có mối quan hệ liên kết với nhau, thế giới không hề tồn tại sự
ngẫu nhiên, cũng không có cái được gọi là "mối quan hệ nhân quả". "Theo
quan điểm của ông, sự tương tác ngoại quan là kết quả xuất phát từ ý
Nguyện Tối Cao của Thượng Đế. Luận điểm chủ đạo trong Thuyết Quyền Năng
Thần Thánh (Doctrine of Divine arbitrariness) của ông là " không hề có
sự nối kết nhân quả và tự nhiên nào cả"31
e) Thuyết Phiếm Tượng
David Hume(1711-1776) đã hình thành nên Thuyết Phiếm Tượng (Panphenomenalism),
phủ nhận sự hiện hữu của mọi thực tại (thực tại siêu hình), chỉ thừa
nhận hiệu lực của chúng ở mức hiện tượng; mọi đối tượng chỉ tồn tại
trong phạm vi và kinh nghiệm cảm quan. Bằng cách loại bỏ ý tưởng về bản
chất của linh hồn, Hume triệt tiêu toàn bộ vấn đề về mối quan hệ tương
hỗ. Ông kết luận rằng mọi sự kiện chỉ là những hiện tượng tái lập và
các hệ quả của chúng, rằng không có một Đấng Sáng Tạo nào cả, rằng sự
hiện hữu chỉ bao gồm chuỗi sự kiện mang tính hiện tượng diễn ra trong
một trật tự giả tạm mà thôi.
7. Sự bất tử
Sự
bất tử ((Immortality), thường được định nghĩa như là sự tồn tại của
tính cách cá nhân vượt lên trên cái chết, là một khái niệm xuyên suốt
lịch sử triết học của nhân loại. Đối với một vấn đề lớn như thế, con
người đã đưa ra nhiều phương cách lý giải, nổi bật trong số đó là bốn
luận điểm chủ yếu:
1. Thân xác người chết được bảo
quản cho đời sống kế tiếp (trong một số nền văn hoá, niềm tin này được
thể hiện qua hình thức bảo vệ thi thể như tục ướp xác,...)
2. Linh hồn bất diệt lìa bỏ thân xác của nó để nhập vào một thân xác mới (luân hồi - transimgration of soul.)
3. Linh hồn về với thiên nhiên vĩnh hằng, tiếp tục tồn tại sau cái chết về thể chất.
4.
Linh hồn chỉ tồn tại trong một điều kiện nào đó Thượng Đế phân định,
bởi lẽ sự sống còn của nó phụ thuộc vào ý nguyện của Ngài.
a) Các hình thức giả danh của sự bất tử
Thông
thường, các hình thức thay thế chó sự bất tử của cá nhân là nguồn cổ vũ
cho những người không đủ lòng tin vào sự sống vĩnh hằng. Những giá trị
thay thế ấy được xem là những hình thức giả danh của sự bất tử
- Sự bất tử về mặt xã hội ( Social Immortality)
Một
số người quan niệm rằng những hành vi tốt đẹp của họ sẽ để lại một ảnh
hưởng lâu dài, ghi dấu sự tồn tại của họ vượt lên trên cái chết. Họ xem
đó là một hình thức bất tử có thể tin tưởng và chấp nhận được. Các
triết gia gọi đó là "sự bất tử về mặt xã hội" hay sự tồn tại
trong ký ức của người đời. Chẳng phải những bài học mà Đức Phật, Đức
Chúa, Thánh Gandhi, Moses, Shakespeare, v.v.....đã có được một giá trị
bất hủ và một vị trí đáng trân trọng trong lòng nhân loại đó sao? Xét
theo quan điểm đó, chúng ta có thể nói rằng các bậc vĩ nhân ấy vẫn tiếp
tục tồn tại sau khi thân xác của họ đã trở về với cát bụi.
Phê
phán quan niệm ấy, một số triết gia đã cho rằng bản thân người đã khuất
không thể cảm nhận được sự tồn tại của mình trong cõi nhớ của người
đời; rằng anh ta không nhận được lợi ích gì từ những cống hiến của
mình, thậm chí bị kẻ khác giành mất "phần thưởng bất tử" có giá trị
mong manh ấy. Ngoài ra, họ còn chỉ ra rằng người tốt có thể bị lãng
quên nhanh chóng, trong khi những kẻ tàn ác như Nero hay Hitler có thể
tìm được một vị trí bất tử trong lịch sử nhân loại - hẳn nhiên, đó là
vị trí đáng phỉ nhổ, nhưng lại thoả mãn được mục đích bất tử trong lòng
người (!?)
- Sự bất tử về mặt di truyền (Biological Immortality)
Những
người có quan niệm này cho rằng nòi giống của họ sẽ tiếp tục sinh tồn,
được di truyền lần lượt qua từng thế hệ và trường tồn mãi cùng với lịch
sử. Đối với họ, một sự trường tồn như thế xứng đáng được thừa nhận như
một hình thức bất tử khả thi.
Tuy nhiên, những người không
chấp nhận quan niệm này lại đưa ra nhận định rằng rất nhiều vĩ nhân đức
độ và tài năng không có hậu duệ, trong khi con cháu của những kẻ vô
luân như Cain32 có thể duy trì nòi giống của chúng
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cuối cùng, khi đến thời điểm trái đất
và mọi cư dân của nó tiêu biến đi, mọi hi vọng về hình thức bất tử này
cũng tan biến theo.
- Sự bất tử phi nhân vị (Impesonal Immortality)
Quan
niệm về sự sống vĩnh hằng ở một hình thái khác là niềm tin khá phổ biến
trong các tôn giáo phiếm thần. Quan niệm này cho rằng cuộc sống sau cái
chết không có tính cá nhân, rằng mọi linh hồn đều hoà quyện làm. Một
(là thể tuyệt đối - the Absolute, hay trạng thái Niết bàn theo giáo lý
của người Hindu, hoặc "vũ trụ nhân loại" theo ý tưởng của
Plato,v.v....)
Rõ ràng, sự sống vĩnh hằng theo quan điểm phiếm
thần không làm thỏa mãn các triết gia tôn giáo khác, những người luôn
đặt giá trị của tính cách cá nhân lên trên tất cả, những người luôn ước
muốn gói gọn vấn đề bất tử trong khuôn khổ niềm tin về tính bất diệt
của linh hồn mỗi con người.
b) Các lập luận phản bác sự bất tử
Trong lịch sử triết học, niềm tin về sự bất tử của cá nhân luôn đối mặt với nhiều lập luận phản bác, trong đó phải kể đến:
- Thuyết Hành Vi (Behaviorism)
Khoa học
tâm lý hành vi ứng xử đã tạo ra cơ sở hình thành nên một trong những
lập luận vững chãi nhất chống lại quan niệm về sự bất tử của cá nhân.
Bằng cách quy kết mọi hiện tượng tinh thần cho các yếu tố tâm sinh lý,
Thuyết Hành Vi đã loại bỏ mọi nhu cầu suy tưởng siêu hình về sự tồn tại
của linh hồn, từ đó phủ nhận ý tưởng về sự sống vĩnh hằng.
Tuy
nhiên cùng với sự phát triển của bộ môn tâm lý học trong vài thập niên
vừa qua, hiện nay Thuyết Hành Vi không còn điểm tựa vững vàng như trước
nữa. Sự phát triển của ngành phân tâm học (psycho- analysis) và các
liệu pháp thần kinh đã góp phần đề cao tầm quan trọng của các kinh
nghiệm thần kinh đã góp phần đề cao tầm quan trọng của các kinh nghiệm
thần kinh đối với sự vận hành của tổng trạng cơ thể. Xét về mặt lý
luận, loại trừ các nguyên nhân tinh thần bằng cách chứng minh sự tồn
tại của các cơ chế vật chất là một hình thức ngụy biện "kết chuỗi nhân
quả" (post hoc fallacy).
- Vọng Tưởng (Wishful Thinking)
Một
số người cho rằng sự bất tử chỉ là sản phẩm ảo tưởng xuất phát từ ước
vọng của con người, một quan niệm lạc quan thái quá về một điều phi
thực tế. Tuy nhiên, đó chỉ là nhận định, không phải là cơ sở lập luận.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần nhớ rằng không phải mọi ước nguyện lạc
quan của nhân loại đều là ảo vọng.
- Quy luật hữu hạn (Finete Series)
Phản
bác quan niệm về sự bất tử, lập luận này cho rằng mọi vật có điểm khởi
đầu tất phải có điểm kết thúc. Tuy nhiên, trong toán học vẫn xuất hiện
khái niệm vô hạn, chẳng hạn như đường thẳng bắt đầu từ một điểm cho
trước và kéo dài cho đến vô cực.
- Tín ngưỡng hạ đẳng (lowly origin)
Có
người cho rằng sự bất tử là niềm tin xuất phát từ các bộ lạc sơ khai và
mê tín, không đáng được quan tâm xem xét. Xét về mặt lập luận, lý lẽ
nào bao hàm hình thức nguỵ biện "chấp gốc bỏ ngọn" (genetic fallacy),
bởi vì nó cho rằng nguồn gốc mê muội của một kết luận là bằng chứng về
sự sai lầm của nó. Thực tế, chúng ta không thể phân định chân lý dựa
theo nguồn gốc cao thấp, văn minh hoặc sơ khai.
- Chủ nghĩa hoài nghi (Skepticism)
Nhiều
người lập luận rằng, do hầu hết các khoa học gia đều phủ nhận sự bất
tử, cuộc sống vĩnh hằng nhất thiết là khái niệm phi thực tế. Tuy nhiên,
các nhà khoa học không phải là những người có khả năng đưa ra kết luận
hoàn toàn chính xác về các vấn đề thuộc lãnh vực triết học tôn giáo. Do
đó, thực ra lập luận nói trên bao hàm hình thức nguỵ biện "thẩm quyền
bất xứng" (mispkaced authority)
c) Các lập luận hỗ trợ quan niệm bất tử
- Lập luận về sự bảo lưu giá trị (The Conservation of Values)
Bảo
vệ cho quan niệm bất tử, triết gia Douglas Clyde Macintosh đã lập luận
hùng hồn rằng chỉ có sự sống vĩnh hằng mới có thể duy trì các giá trị
phổ biến trong vũ trụ. Nếu không có sự bất tử của cá nhân, các giá trị
tinh thần như lẽ Chân-Thiện-Mỹ và Tình Yêu sẽ bị băng hoại - sự trường
tồn của các giá trị đạo đức phụ thuộc vào sự tồn tại của tính cách cá
nhân. Bởi vì Thượng Đế là Vô Hạn và Vĩnh Hằng, các giá trị do ngài tạo
ra cũng thế; chúng tồn tại phát triển và thăng hoa trong tính cách của
mỗi cá nhân. Vì thế, các giá trị đạo đức và phẩm cách cá nhân đều là
công trình bất hủ của Thượng Đế, "Đấng có đủ quyền năng và lòng từ ái để gìn giữ các giá trị cá nhân trước cái chết về mặt thể chất" (Trích từ tác phẩm "Tính lý lẽ của đạo Cơ Đốc - Theasonableness of Christianity" của Douglas C. Macintosh, chương IV.)
Chúng ta cần lưu ý rằng lập luận này được xây dựng trên hai tiền đề cơ bản: sự tồn tại của Thượng Đế và lòng từ ái của Ngài.
- Đạo Đức luận (The Moral argunent)
Immanuel
Kant và Frederick Robert Tennant, triết gia tôn giáo người Anh, là hai
trong số những người ủng hộ tích cực nhất cho khái niệm bất tử theo
quan điểm của Đạo Đức Luận, lập luận dựa trên cơ sở Lòng Từ Ái và Tính
Thiện của Thượng Đế. Xuất phát từ câu hỏi: "Liệu có người đòi hỏi lẽ phải lại không thực hiện lẽ phải?", lập luận này phát triển các hình thức lý lẽ như sau:
Thượng
Đế đã giành cho con người phận sự đạo đức khó lòng hoàn tất được trong
một đời. Là Đấng Toàn Năng, Nhân Từ và Công Bằng, nhất thiết Ngài phải
ban cho con người sự sống vĩnh hằng để hoàn tất nghĩa vụ ấy.
Sự bất tử là điều kiện thiết yếu để con người "sửa đổi những sai lầm phạm phải trong đời".
Tennant nhân định rằng sự bất tử là yếu tố cần có để hoàn thành mục
đích đạo đức của thế giới. Nói cách khác, những cá nhân đức độ phải
nhận được cuộc sống tốt đẹp trong tương lai như là phần thưởng cho một
đời vươn đến những giá trị đạo đức. Nếu Thượng Đế nhân từ, Ngài sẽ
không lừa dối con người, Ngài sẽ dành cho sự sống sau cái chết để hoàn
tất các mục đích đạo đức mà Ngài đã định ra khi sáng tạo thế giới.
Cần
lưu ý rằng các dạng lý lẽ trên đều phụ thuộc vào tiền đề về sự tồn tại
của Thượng Đế từ ái và bao dung. Theo lời của Edgar S. Brightman, "nếu Thượng Đế thực sự tồn tại, sự sống vĩnh hằng là điều tất yếu. Nếu không, sự bất tử là điều chẳng đáng có."33
- Tỷ Giảo luận (The argument fom Analogy)
Jonseph
Butler, triết gia Anh thuộc thế kỷ 18, nhận định rằng, căn cứ trên cơ
sở suy luận từ quá trình chuyển hoá và biến thái của một số sinh vật,
sự sống sau cái chết là điều hoàn toàn khả dĩ. Theo lập luận của
Butler, nếu như sự biến thái (metamorphosis) từ dạng sâu sang dạng bướm
là một tiến trình tự nhiên, hẳn là con người cũng được thiên nhiên ban
cho khả năng tồn tại ở một hình thái nào đó sau cái chết về mặt thể xác.
- Thuyết dẫn truyền ( The Transmission Theory)
William James là người đã phân định sự khác biệt giữa hai chức năng "sản sinh" (Productive) và "dẫn truyền" (transmissive)
của con người. Theo James, thể xác không sản sinh mà chỉ "dẫn truyền"
năng lực tinh thần - nói cách khác, tinh thần tự biểu hiện thông qua
thể xác vật chất. Vì thế, sự bất tử là trạng thái mà tấm màn vật chất
(thể xác) được lột bỏ đi, nhờ đó linh hồn đạt được sự tự do trọn vẹn,
thoát khỏi gánh nặng của bộ máy xác thịt vô thường.
- Đức tin phổ quát (Univesslity of Belief)
Lập
luận này cho rằng bởi lẽ niềm tin về sự bất tử của cá nhân có tính phổ
quát, nó phải được nhận như là một chân lý, là đối tượng để nghiên cứu
dựa trên các cơ sở thực tế. Tuy nhiên, cần phải phân biệt giữa đức tin
phổ quát và hiện thực của một niềm tin. Bởi lẽ trong lịch sử nhân loại,
không ít lần con người chấp nhận những niềm tin mà về sau chúng được
chứng minh là sai trái. Hơn nữa, khó lòng nhìn nhận quan niệm về sự bất
tử như một đức tin phổ quát, nhiều người vẫn còn hoài nghi, thậm chí
phản bác quan niệm ấy. Thực tế, sự bất tử chỉ là một ý tưởng vào đời
sống vĩnh hằng.