Chủ Nhật, 16/08/2009, 23:33 GMT+7
Triết lý tôn giáo ( Phần 02)
5. Vấn đề linh hồn : Trong lịch sử triết học tôn giáo, nổi bật lên các học thuyết về linh hồn như sau:
a) Thuyết hiện tượng phụ đới

Hiện Tượng Phụ Đới (Epiphenomenalism) là học thuyết phủ nhận sự tồn tại độc lập của tâm trí và linh hồn, cho rằng thể xác là thực thể hiện hữu duy nhất, rằng tâm trí và linh hồn chỉ là hiện tượng phụ (những sản phẩm phụ có tính dễ biến đổi , phù du và vô thường, hay chỉ là hoạt động chức năng của thể xác vật chất), chỉ hiện hữu khi thể xác còn tồn tại.

Luận điểm chủ đạo của học thuyết này xuất phát từ một môn Tâm lý học ứng xử do John B, Watson cùng một số nhà tâm lý học hiện đại đề ra. Các học giả ấy cho rằng nhận định và đánh giá hành vi ứng xử là phương pháp hiệu quả và khoa học nhất đối với các biểu hiện tâm lý, rằng phải quy kết các hoạt động thần kinh cho cơ chế phản xạ và thể trạng tâm sinh lý. Họ kết luận rằng chỉ có thể xác và vật chất là thực sự tồn tại, linh hồn hay tinh thần chỉ là các hoạt động mang tính chức năng mà thôi. Cuối cùng, Thuyết Hiện Tượng Phụ Đới bác bỏ mọi khả năng tồn tại của cuộc sống sau khi chết, cho rằng sự sống vĩnh hằng là một dạng ảo tưởng phi thựuc tế của con người.

b) Thuyết tương hỗ (Interactionism)

Đặt niềm tin vào sự thực hữu độc lập của thể xác lẫn linh hồn, những người theo Thuyết Tương Hỗ không phân định sự khác biệt giữa tâm trí và linh hồn. Phản bác lập luận Hiện Tượng Phụ Đới, Sigmund Freud và Carl Jung27

c) Thuyết Thực Thể ( Substantialism)

Quan niệm về con người như một thực thể ba ngôi (triune), Thuyết Thực Thể được các triết gia Công giáo và một số tôn giáo khác thừa nhận. Họ phân biệt rõ ràng ba ngôi của thực thể con người: thể xác (bao gồm cả bộ não), tâm thức (chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động và kinh nghiệm tinh thần) và linh hồn (theo Thánh Thomas Aquinas, đó là nguyên lý thống trị hoạt động lý trí của con người) Về phần mình, Borden Parker Bowne nhận định linh hồn là thể hợp nhất của hoạt động tinh thần. Ngược lai, Thánh Aquinas cho rằng trí tuệ giác của con người là "tinh linh" (soul substance) là thực thể bất tử hay "thần ngã" (spiritual self), một thể có thuộc tính được xem là gần gũi với bản chất của Thượng Đế hơn cả.
đã chứng minh rằng tinh thần có ảnh hưởng sâu sắc đến thể xác vật chất, đôi khi có thể khiến cơ thể suy sụp hay mắc phải bệnh hiểm nghèo. Ngày nay, hiệu lực của các loại kiệu thần kinh đối với các chứng bệnh như: lở loét, tim mạch, thấp khớp, v.v.... chính là bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm nối trên của Thuyết Tương Hỗ. Thực ra, phương pháp luận của Thuyết Hiện Tượng Phụ Đới là con dao hai lưỡi. Nếu chỉ vì chịu sự chi phối của thể xác mà tinh thần không được xem là một thực thể tồn tại độc lập, sự kiện thể trạng vật chất chịu ảnh hưởng của năng lực tinh thần sẽ dẫn đến kết luận rằng thể xác chỉ là hiện tượng, không thực hữu.

6. Mối quan hệ giữa thinh thần và thể xác

Mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác là vấn đề xưa cũ và dai dẳng nhất trong lịch sử triết học của nhân loại. Hiện nay, mọi người đều biết rằng tinh thần có ảnh hưởng đến thể xác (lo lắng sinh ra bệnh tật) và ngược lại (uống quá nhiều rượu gây ra các chứng rối loạn thần kinh). Tuy nhiên, mặc dù các mối tương tác thể xác và tinh thần liên tục diễn trong đời sống con người, chưa có một triết gia, nhà tâm lý học hay y sĩ nào có khả năng xác định chính xác thời điểm và cơ chế vận hành của chúng.

a) Nhị Nguyên Siêu Hình luận (Metaphysical Dualism)- Thuyết Ngẫu Nhiên (Occasionalism)

Triết gia duy lý người Pháp René Descartes quan niệm vật chất và tinh thần (thể xác và tâm linh) là hai thực thể riêng rẽ, khác biệt và thực hữu theo cách riêng của chúng. Sự kiện chúng vận hành hoà hợp với nhau đã nẩy sinh ra một vấn đề :"Làm thế nào mà hai thực thể không có đặc điểm chung nào lại có thể phối hợp hoạt động một cách nhịp nhàng như thế?"

Thoạt đầu, Descartes và các học giả ủng hộ ông đã cho rằng tuyến yên (pineal gland) trong bộ não chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động của thể xác và tinh thần. Tuy nhiên, kết luận ấy chỉ nhận được ít tiếng vang rồi nhanh chóng chìm vào quên lãng. Trường phái Descartes cũng quy kết nguyên nhân của mọi hoạt động tương hỗ ấy cho ý nguyện của Thượng Đế, Đấng có quyền năng ban phát cho muôn loài các năng lực cầng thiết cho cuộc sống của chung. Xét theo quan điểm đó, những nguyên nhân phức hợp về mặt thể chất không phải là căn nguyên thực, Thượng Đế chính là căn nguyên duy nhất và tối hậu của mối tương tác giữa tinh thần và thể xác. Quan điểm này còn được biết đến với cái tên Thuyết Ngẫu Nhiên.

Thực tế các triết gia tiên phong của Thuyết Ngẫu Nhiên, Arnold Geulinex và Nicoli Malebrache, không để lại ảnh hưởng đặc biệt trong nền triết học hiện đại. Tuy nhiên, ngày nay một số triết gia của chủ nghĩa Nhân Vị (Personnalism) đã sử dụng Thuyết Ngẫu Nhiên để bổ túc cho học thuyết của họ. Triết gia nhân vị Albert Cornelius Knudson (1873-1953) đã nhận định: " Thuyết ngẫu nhiên tìm được ý nghĩa của nó trong vài trò ấy (bổ túc cho học Thuyết nhân vị ), hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển tri thức của thời đại. Thực chất, vô sản không nhận thấy được sự hiển hiện tâm linh nơi mỗi một hình thái vật chất. Bởi lẽ nếu như không thấy được linh tánh nơi muôn vật, mọi sự được xem xét theo hướng quy nguyên về hành vi thần thánh, bỏ qua vai trò của những linh hồn tinh thần độc lập."28

Thực tế, chúng ta có thể nhận ra rằng rất nhiều triết gia thời cổ đại, bao gồm cả Aristotle, cũng như thời hiện đại, chia sẻ phần nào quan điểm của Thuyết Ngẫu Nhiên trong nỗ lực quy kết căn nguyên tối hậu cho sự chi phối của thần thánh.

b) Thuyết Tâm Vật Song Lập (Psychophysical Parallelism)

Thuyết này nhấn mạnh rằng, mặc dù thể chất và tinh thần là hai thực tại không tác động qua lại với nhau, mỗi một thay đổi về mặt tinh thần đều có một sự thay đổi tương ứng về mặt thể chất, và ngược lại. Theo lời của Benedict Spinoza, người cổ xuý tích cực nhất cho quan điểm này, "trật tự và sự nối kết của tư tưởng chẳng khác gì trật tự và sự nối kết của vật chất"29

Theo học thuyết này, mối quan hệ giữa tinh thần và thể chất so sánh với hai mặt của cùng một tờ giấy: Những gì tác động đến bất kỳ mặt nào cũng ảnh hưởng đến tờ giấy, bất kỳ điều gì tác động đến tờ giấy đều ảnh hưởng đến cả hai mặt của nó. Tương tự, điều gì tác động đến tinh thần sẽ có ảnh hưởng tương ứng đối với thể chất và ngược lại.

c) Thuyết Hoà Hợp Tiên Định (Preestablished Harmony)

Gottfried Wilhelm Leibniz hình thành một học thuyết cho rằng sự tương tác giữa tinh thần và thể xác chỉ là hiện tượng phản ánh sự Hoà Hợp Tiên Định mà Thượng Đế đã ban cho. Theo quan điểm của Leibniz, tinh thần và thể xác vận hành như thể chúng tương tác với nhau và nhận thức được như nhau, tuy nhiên sự tương tác ấy chỉ là hiện tượng hay ảo giác mà thôi. Vật chất và tinh thần chỉ vận hành theo bản chất và cấu trúc chỉ của riêng chúng, đồng thời tạo ra một ấn tượng hoà hợp khiến ta liên tưởng đến một mối quan hệ tương tác. Quan điểm này có thể được minh hoạ qua hình ảnh năm toà nhà nằm cạnh nhau, được xây dựng và hoàn tất đồng thời. Mặc dù có vẻ hoà hợp với nhau, thực ra mỗi toà nhà vẫn tồn tại hoàn toàn độc lập với nhau.

d) Thuyết Quyền Năng Thần Thánh

George Berkeley (1685-1753)30 triết gia kinh nghiệm (Empiricist) Anh, nhận định rằng mặc dù các đối tượng tự nhiên có mối quan hệ liên kết với nhau, thế giới không hề tồn tại sự ngẫu nhiên, cũng không có cái được gọi là "mối quan hệ nhân quả". "Theo quan điểm của ông, sự tương tác ngoại quan là kết quả xuất phát từ ý Nguyện Tối Cao của Thượng Đế. Luận điểm chủ đạo trong Thuyết Quyền Năng Thần Thánh (Doctrine of Divine arbitrariness) của ông là " không hề có sự nối kết nhân quả và tự nhiên nào cả"31

e) Thuyết Phiếm Tượng

David Hume(1711-1776) đã hình thành nên Thuyết Phiếm Tượng (Panphenomenalism), phủ nhận sự hiện hữu của mọi thực tại (thực tại siêu hình), chỉ thừa nhận hiệu lực của chúng ở mức hiện tượng; mọi đối tượng chỉ tồn tại trong phạm vi và kinh nghiệm cảm quan. Bằng cách loại bỏ ý tưởng về bản chất của linh hồn, Hume triệt tiêu toàn bộ vấn đề về mối quan hệ tương hỗ. Ông kết luận rằng mọi sự kiện chỉ là những hiện tượng tái lập và các hệ quả của chúng, rằng không có một Đấng Sáng Tạo nào cả, rằng sự hiện hữu chỉ bao gồm chuỗi sự kiện mang tính hiện tượng diễn ra trong một trật tự giả tạm mà thôi.

7. Sự bất tử

Sự bất tử ((Immortality), thường được định nghĩa như là sự tồn tại của tính cách cá nhân vượt lên trên cái chết, là một khái niệm xuyên suốt lịch sử triết học của nhân loại. Đối với một vấn đề lớn như thế, con người đã đưa ra nhiều phương cách lý giải, nổi bật trong số đó là bốn luận điểm chủ yếu:

1. Thân xác người chết được bảo quản cho đời sống kế tiếp (trong một số nền văn hoá, niềm tin này được thể hiện qua hình thức bảo vệ thi thể như tục ướp xác,...)
2. Linh hồn bất diệt lìa bỏ thân xác của nó để nhập vào một thân xác mới (luân hồi - transimgration of soul.)
3. Linh hồn về với thiên nhiên vĩnh hằng, tiếp tục tồn tại sau cái chết về thể chất.
4. Linh hồn chỉ tồn tại trong một điều kiện nào đó Thượng Đế phân định, bởi lẽ sự sống còn của nó phụ thuộc vào ý nguyện của Ngài.

a) Các hình thức giả danh của sự bất tử

Thông thường, các hình thức thay thế chó sự bất tử của cá nhân là nguồn cổ vũ cho những người không đủ lòng tin vào sự sống vĩnh hằng. Những giá trị thay thế ấy được xem là những hình thức giả danh của sự bất tử

- Sự bất tử về mặt xã hội ( Social Immortality)

Một số người quan niệm rằng những hành vi tốt đẹp của họ sẽ để lại một ảnh hưởng lâu dài, ghi dấu sự tồn tại của họ vượt lên trên cái chết. Họ xem đó là một hình thức bất tử có thể tin tưởng và chấp nhận được. Các triết gia gọi đó là "sự bất tử về mặt xã hội" hay sự tồn tại trong ký ức của người đời. Chẳng phải những bài học mà Đức Phật, Đức Chúa, Thánh Gandhi, Moses, Shakespeare, v.v.....đã có được một giá trị bất hủ và một vị trí đáng trân trọng trong lòng nhân loại đó sao? Xét theo quan điểm đó, chúng ta có thể nói rằng các bậc vĩ nhân ấy vẫn tiếp tục tồn tại sau khi thân xác của họ đã trở về với cát bụi.

Phê phán quan niệm ấy, một số triết gia đã cho rằng bản thân người đã khuất không thể cảm nhận được sự tồn tại của mình trong cõi nhớ của người đời; rằng anh ta không nhận được lợi ích gì từ những cống hiến của mình, thậm chí bị kẻ khác giành mất "phần thưởng bất tử" có giá trị mong manh ấy. Ngoài ra, họ còn chỉ ra rằng người tốt có thể bị lãng quên nhanh chóng, trong khi những kẻ tàn ác như Nero hay Hitler có thể tìm được một vị trí bất tử trong lịch sử nhân loại - hẳn nhiên, đó là vị trí đáng phỉ nhổ, nhưng lại thoả mãn được mục đích bất tử trong lòng người (!?)

- Sự bất tử về mặt di truyền (Biological Immortality)

Những người có quan niệm này cho rằng nòi giống của họ sẽ tiếp tục sinh tồn, được di truyền lần lượt qua từng thế hệ và trường tồn mãi cùng với lịch sử. Đối với họ, một sự trường tồn như thế xứng đáng được thừa nhận như một hình thức bất tử khả thi.

Tuy nhiên, những người không chấp nhận quan niệm này lại đưa ra nhận định rằng rất nhiều vĩ nhân đức độ và tài năng không có hậu duệ, trong khi con cháu của những kẻ vô luân như Cain32 có thể duy trì nòi giống của chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cuối cùng, khi đến thời điểm trái đất và mọi cư dân của nó tiêu biến đi, mọi hi vọng về hình thức bất tử này cũng tan biến theo.

- Sự bất tử phi nhân vị (Impesonal Immortality)

Quan niệm về sự sống vĩnh hằng ở một hình thái khác là niềm tin khá phổ biến trong các tôn giáo phiếm thần. Quan niệm này cho rằng cuộc sống sau cái chết không có tính cá nhân, rằng mọi linh hồn đều hoà quyện làm. Một (là thể tuyệt đối - the Absolute, hay trạng thái Niết bàn theo giáo lý của người Hindu, hoặc "vũ trụ nhân loại" theo ý tưởng của Plato,v.v....)

Rõ ràng, sự sống vĩnh hằng theo quan điểm phiếm thần không làm thỏa mãn các triết gia tôn giáo khác, những người luôn đặt giá trị của tính cách cá nhân lên trên tất cả, những người luôn ước muốn gói gọn vấn đề bất tử trong khuôn khổ niềm tin về tính bất diệt của linh hồn mỗi con người.

b) Các lập luận phản bác sự bất tử

Trong lịch sử triết học, niềm tin về sự bất tử của cá nhân luôn đối mặt với nhiều lập luận phản bác, trong đó phải kể đến:

- Thuyết Hành Vi (Behaviorism)

Khoa học tâm lý hành vi ứng xử đã tạo ra cơ sở hình thành nên một trong những lập luận vững chãi nhất chống lại quan niệm về sự bất tử của cá nhân. Bằng cách quy kết mọi hiện tượng tinh thần cho các yếu tố tâm sinh lý, Thuyết Hành Vi đã loại bỏ mọi nhu cầu suy tưởng siêu hình về sự tồn tại của linh hồn, từ đó phủ nhận ý tưởng về sự sống vĩnh hằng.

Tuy nhiên cùng với sự phát triển của bộ môn tâm lý học trong vài thập niên vừa qua, hiện nay Thuyết Hành Vi không còn điểm tựa vững vàng như trước nữa. Sự phát triển của ngành phân tâm học (psycho- analysis) và các liệu pháp thần kinh đã góp phần đề cao tầm quan trọng của các kinh nghiệm thần kinh đã góp phần đề cao tầm quan trọng của các kinh nghiệm thần kinh đối với sự vận hành của tổng trạng cơ thể. Xét về mặt lý luận, loại trừ các nguyên nhân tinh thần bằng cách chứng minh sự tồn tại của các cơ chế vật chất là một hình thức ngụy biện "kết chuỗi nhân quả" (post hoc fallacy).

- Vọng Tưởng (Wishful Thinking)

Một số người cho rằng sự bất tử chỉ là sản phẩm ảo tưởng xuất phát từ ước vọng của con người, một quan niệm lạc quan thái quá về một điều phi thực tế. Tuy nhiên, đó chỉ là nhận định, không phải là cơ sở lập luận. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần nhớ rằng không phải mọi ước nguyện lạc quan của nhân loại đều là ảo vọng.

- Quy luật hữu hạn (Finete Series)

Phản bác quan niệm về sự bất tử, lập luận này cho rằng mọi vật có điểm khởi đầu tất phải có điểm kết thúc. Tuy nhiên, trong toán học vẫn xuất hiện khái niệm vô hạn, chẳng hạn như đường thẳng bắt đầu từ một điểm cho trước và kéo dài cho đến vô cực.

- Tín ngưỡng hạ đẳng (lowly origin)

Có người cho rằng sự bất tử là niềm tin xuất phát từ các bộ lạc sơ khai và mê tín, không đáng được quan tâm xem xét. Xét về mặt lập luận, lý lẽ nào bao hàm hình thức nguỵ biện "chấp gốc bỏ ngọn" (genetic fallacy), bởi vì nó cho rằng nguồn gốc mê muội của một kết luận là bằng chứng về sự sai lầm của nó. Thực tế, chúng ta không thể phân định chân lý dựa theo nguồn gốc cao thấp, văn minh hoặc sơ khai.

- Chủ nghĩa hoài nghi (Skepticism)

Nhiều người lập luận rằng, do hầu hết các khoa học gia đều phủ nhận sự bất tử, cuộc sống vĩnh hằng nhất thiết là khái niệm phi thực tế. Tuy nhiên, các nhà khoa học không phải là những người có khả năng đưa ra kết luận hoàn toàn chính xác về các vấn đề thuộc lãnh vực triết học tôn giáo. Do đó, thực ra lập luận nói trên bao hàm hình thức nguỵ biện "thẩm quyền bất xứng" (mispkaced authority)

c) Các lập luận hỗ trợ quan niệm bất tử

- Lập luận về sự bảo lưu giá trị (The Conservation of Values)

Bảo vệ cho quan niệm bất tử, triết gia Douglas Clyde Macintosh đã lập luận hùng hồn rằng chỉ có sự sống vĩnh hằng mới có thể duy trì các giá trị phổ biến trong vũ trụ. Nếu không có sự bất tử của cá nhân, các giá trị tinh thần như lẽ Chân-Thiện-Mỹ và Tình Yêu sẽ bị băng hoại - sự trường tồn của các giá trị đạo đức phụ thuộc vào sự tồn tại của tính cách cá nhân. Bởi vì Thượng Đế là Vô Hạn và Vĩnh Hằng, các giá trị do ngài tạo ra cũng thế; chúng tồn tại phát triển và thăng hoa trong tính cách của mỗi cá nhân. Vì thế, các giá trị đạo đức và phẩm cách cá nhân đều là công trình bất hủ của Thượng Đế, "Đấng có đủ quyền năng và lòng từ ái để gìn giữ các giá trị cá nhân trước cái chết về mặt thể chất" (Trích từ tác phẩm "Tính lý lẽ của đạo Cơ Đốc - Theasonableness of Christianity" của Douglas C. Macintosh, chương IV.)

Chúng ta cần lưu ý rằng lập luận này được xây dựng trên hai tiền đề cơ bản: sự tồn tại của Thượng Đế và lòng từ ái của Ngài.

- Đạo Đức luận (The Moral argunent)

Immanuel Kant và Frederick Robert Tennant, triết gia tôn giáo người Anh, là hai trong số những người ủng hộ tích cực nhất cho khái niệm bất tử theo quan điểm của Đạo Đức Luận, lập luận dựa trên cơ sở Lòng Từ Ái và Tính Thiện của Thượng Đế. Xuất phát từ câu hỏi: "Liệu có người đòi hỏi lẽ phải lại không thực hiện lẽ phải?", lập luận này phát triển các hình thức lý lẽ như sau:

Thượng Đế đã giành cho con người phận sự đạo đức khó lòng hoàn tất được trong một đời. Là Đấng Toàn Năng, Nhân Từ và Công Bằng, nhất thiết Ngài phải ban cho con người sự sống vĩnh hằng để hoàn tất nghĩa vụ ấy.

Sự bất tử là điều kiện thiết yếu để con người "sửa đổi những sai lầm phạm phải trong đời". Tennant nhân định rằng sự bất tử là yếu tố cần có để hoàn thành mục đích đạo đức của thế giới. Nói cách khác, những cá nhân đức độ phải nhận được cuộc sống tốt đẹp trong tương lai như là phần thưởng cho một đời vươn đến những giá trị đạo đức. Nếu Thượng Đế nhân từ, Ngài sẽ không lừa dối con người, Ngài sẽ dành cho sự sống sau cái chết để hoàn tất các mục đích đạo đức mà Ngài đã định ra khi sáng tạo thế giới.

Cần lưu ý rằng các dạng lý lẽ trên đều phụ thuộc vào tiền đề về sự tồn tại của Thượng Đế từ ái và bao dung. Theo lời của Edgar S. Brightman, "nếu Thượng Đế thực sự tồn tại, sự sống vĩnh hằng là điều tất yếu. Nếu không, sự bất tử là điều chẳng đáng có."33

- Tỷ Giảo luận (The argument fom Analogy)

Jonseph Butler, triết gia Anh thuộc thế kỷ 18, nhận định rằng, căn cứ trên cơ sở suy luận từ quá trình chuyển hoá và biến thái của một số sinh vật, sự sống sau cái chết là điều hoàn toàn khả dĩ. Theo lập luận của Butler, nếu như sự biến thái (metamorphosis) từ dạng sâu sang dạng bướm là một tiến trình tự nhiên, hẳn là con người cũng được thiên nhiên ban cho khả năng tồn tại ở một hình thái nào đó sau cái chết về mặt thể xác.

- Thuyết dẫn truyền ( The Transmission Theory)

William James là người đã phân định sự khác biệt giữa hai chức năng "sản sinh" (Productive) và "dẫn truyền" (transmissive) của con người. Theo James, thể xác không sản sinh mà chỉ "dẫn truyền" năng lực tinh thần - nói cách khác, tinh thần tự biểu hiện thông qua thể xác vật chất. Vì thế, sự bất tử là trạng thái mà tấm màn vật chất (thể xác) được lột bỏ đi, nhờ đó linh hồn đạt được sự tự do trọn vẹn, thoát khỏi gánh nặng của bộ máy xác thịt vô thường.

- Đức tin phổ quát (Univesslity of Belief)

Lập luận này cho rằng bởi lẽ niềm tin về sự bất tử của cá nhân có tính phổ quát, nó phải được nhận như là một chân lý, là đối tượng để nghiên cứu dựa trên các cơ sở thực tế. Tuy nhiên, cần phải phân biệt giữa đức tin phổ quát và hiện thực của một niềm tin. Bởi lẽ trong lịch sử nhân loại, không ít lần con người chấp nhận những niềm tin mà về sau chúng được chứng minh là sai trái. Hơn nữa, khó lòng nhìn nhận quan niệm về sự bất tử như một đức tin phổ quát, nhiều người vẫn còn hoài nghi, thậm chí phản bác quan niệm ấy. Thực tế, sự bất tử chỉ là một ý tưởng vào đời sống vĩnh hằng.

bantinsom.com ( theo chungta )