Thứ năm, 13/08/2009, 22:15 GMT+7
Triết lý chính trị- xã hội & pháp luật (Phần 3)
8. Triết lý pháp quyền của Hegel : Triết lý chính trị và pháp lý của Georg W.F.Hegel(8) được ông phác hoạ trong tác phẩm "Triết lý pháp quyền" (Die philosophiedes Rechts). Từ Recht, trong tiếng Đức, có thể được hiểu theo 1 trong 3 nghĩa như sau: "lẽ phải" (moral principle), "luật pháp" (law), hay "quyền công dân"(civil). Thực tế, Hegel và nhiều triết gia Đức khác sử dụng thuật ngữ ấy để diễn đạt cả ba nghĩa trên.

Quốc gia - Một ý tưởng đạo đức và thần thánh

Giống như Aristotle, Hegel nhận định rằng con người là một tạo vật có tính xã hội, chỉ có thể tìm thấy sự thực hữu của chính mình trong khuôn khổ quốc gia. Theo ông, nhận thức về sự thực hữu của con người gắn liền với môi trường xã hội. Do vậy, quốc gia có vai trò rất quan trọng đối với vấn đề có ý thức luân lý và đạo đức. Quốc gia là một thực thể bao quát, là môi trường tổng hợp nên toàn bộ tính cách, nếp sống và xu hướng nhận thức của con người. Vì thế con người phải nhất thiết phụ thuộc vào thực thể bao quát ấy. Trên tất cả, quốc gia không thể được lý giả như một khế ước xã hội, bởi lẽ quốc gia không phải đựơc tạo ra từ quyết định của các cá nhân trong một đất nước. Không có quốc gia, chẳng có chân lý nào hay, xét về mặt thực hữu, không có sự nhận thức trọn vẹn nào được tìm thấy nơi một cá nhân hoặc đoàn thể nào đó. Quốc gia là một thực thể chân xác, không chỉ đơn giản là một nhóm người tập hợp lại. Chỉ ở trong quốc gia, cá nhân mới có thể hoàn tất quá trình tự nhận thức của mình.

Hegel đồng nhất quốc gia với quyền năng của Thượng Đế, dàn trải và xuyên suốt lịch sử thế giới. Quốc gia là một ý tưởng Thần Thánh, là sự hiển lộ của Thượng Đế ở chốn trần thế, là thực thể đáng được tôn thờ. Là một hình thức thể hiện tính hợp lý hoàn hảo, quốc gia chỉ yêu cầu các công dân những gì hợp lẽ. Mặc dù quốc gia được hình thành chủ yếu bằng vũ lực, chính cảm giác an sinh trong trật tự đã giữ cho nó đứng vững.

Quốc gia - Một tổng thể hữu cơ

Đối với Hegel, quốc gia là một tổng thể hữu cơ, không ngừng phát triển để tự khẳng định chính mình. Một quốc gia băng hoại giống như cơ thể người bệnh, mặc dù có thể vẫn tồn tại nhưng không thể hoạt động như một thực tại sống động - như một bàn tay bị thương tật, tuy vẫn giữ nguyên hình thể nhưng vô cảm và không thể cử động theo ý muốn. Quốc gia theo đuổi sự nghiệp tự nhận thức và tự khẳng định, một sự nghiệp mà tinh thần thế giới (the world Spirit) đã tạo ra cho nó.

Hiến pháp

Quốc gia là tinh thần của đất nước. Luật pháp thâm nhập và nuôi dưỡng toàn bộ đời sống của nó, thể hiện các quy tắc và ý thức đạo đức của người dân trong một đất nước. Dạng hiến pháp mà một quốc gia chấp nhận tương xứng với mức độ hiểu biết, hay mức độ hoàn tất quá trình tự nhận thức của nó. Hiến pháp (consitution) không hoàn toàn được tạo ra bởi con người, nó xuất phát từ mức độ thức ngộ, khả năng thành tựu quá trình tự khẳng định của một quốc gia. Hiến pháp thể hiện sự phát triển xuyên suốt dòng lịch sử của một quốc gia. Hiến pháp co tính hợp lý và có giá trị bất diệt, là một công cụ có tính thần thánh - không phải là một tác phẩm của con người, mà là tác phẩm của cả ngàn năm lịch sử, nó bộc lộ những gì hợp lý, là ý thức về những gì hợp lý. Nó là đặc tính thiêng liêng của lý lẽ, là “toà kiến trúc uy nghiêm và hùng vĩ

Vị Quân Chủ

Hegel cho rằng chính thể quân chủ lập hiến (constitutional Monnarchy) là hình thức nhà nước tối cao - không có tính dân chủ theo ý tưởng cho rằng quyền tối thượng thuộc về dân chúng. Nó xuất phát từ ý tưởng cho rằng người trị vì đất nước là nhân vật đứng đầu một quốc gia tổng thể hữu cơ, thể hiện tinh thần Thế Giới. Ông nhận định rằng “quyền lực tối thượng thuộc về nhân vị mang tính tổng thể, được đại diện bởi nhà quân chủ”. Quyết định tối hậu thuộc về nhà nước, thể hiện ý chí tự quyết tối thượng, và vị quân chủ là người phát ngôn chính thức của toàn quốc gia. tuy vậy, vị quân chủ không phải là bản thân nhà nước, mặc dù nhà nước hoạt động thông qua ông ta. Thực tế, hầu như vi quân chủ chỉ "ký tên mình" để xác lập tinh thần quốc gia. Bởi vì nhà nước tồn tại độc lập với quyền trị vì, phẩm chất và tài năng của vị quân chủ chỉ chiếm vai trò thứ yếu, vai trò của "người vâng mệnh quốc gia" để thực hiện công việc đặt nét bút cuối cùng. Nói cách khác, bất chấp sự kiện rằng các quyết định tối thượng trực tiếp gắn liền với ông ta, vị quân chủ chỉ đặt dấu ấn cuối cùng để tuyên cáo rằng những quyết định ấy phù hợp với ý nguyện tối thượng của quốc gia.

Vị quân chủ là người trị vì một quốc gia chuyên chế, trong đó quyền hành pháp và lập pháp vận hành theo hình thức tư vấn. Trong lãnh vực lập pháp, quyền lợi của quần chúng, cũng như quan điểm và khát vọng của họ, có cơ hội thể hiện. Bất chấp sự kiện rằng thực tế quần chúng không nắm quyền lực nào, chính phủ không nên có thái độ chống đối họ.

Quần chúng tìm thấy sự hợp nhất, tổ chức và chân giá trị của họ trong quốc gia. Nếu tách rời khỏi quốc gia, cá nhân đánh mất vai trò và ý nghĩa của minh.

Triết lý chiến tranh của Hegel

Hegel nhận định rằng chiến tranh có một khía cạnh đạo đức riêng, góp phần tôn vinh giá trị cao quý của hoạt động sống của con người. Nó khơi dậy những phẩm chất cao đẹp nhất của con người, tạo cơ hội cho con người hành xử như những vị anh hùng, thậm chí khi nó đòi hỏi họ hy sinh mạng sống cho quốc gia. Mặc dù cá nhân có thể chết, quốc gia phải sinh tồn và tiếp tục sự nghiệp của mình - quốc gia vĩ đại và quan trọng hơn bất kỳ một cá nhân nào. Vinh quang của cá nhân không co ý nghĩa bằng “sự tự nguyện hiến thân cho một sự nghiệp vũ trụ”, sự nghiệp phục vụ quốc gia. Chiến tranh trắc nghiệm sức mạnh và khả năng vận hành của một quốc gia, tạo cơ hội gìn giữ đạo lý và tinh thần tự quyết của một dân tộc. Hegel cho rằng Immanel Kant đã sai lầm khi cổ xuý cho một nên hoà bình vĩnh cửu, điều kiện thực sự mang đến sự trì trệ, tình trạng mục rỗng, thối nát và băng hoại. Ngược lại, chiến tranh vận hành như một chất xúc tác chống lại những điều xấu xa ấy. Trong một nền hoà bình vĩnh cửu, các cơ cấu tổ chức trở nên thụ động và chết cứng. Thực tế , Hegel nhận đinh, không có xung đột, không thể có tiến bộ. Chiến tranh là hình thức xung đột căng thẳng và khốc liệt nhất; vì thế nó là động cơ thúc đẩy sự tiến bộ mạnh mẽ nhất. Các quốc gia vượt qua khỏi chiến tranh thường vươn lên với một tinh thần tự chủ kiên cường. Theo Hegel, không có chiến tranh, không thể có hoà bình; bởi vì hoà bình là hệ quả của chiến tranh.

Các mối quan hệ quốc tế

Quốc gia là cơ cấu tổ chức tối hậu của xã hội con người. Do không có nước nào đứng trên nước khác. Bất đồng giữa các cá nhân được giải quyết bởi nhà nước; xung đột giữa các quốc gia được quyết định bởi chiến tranh. Đối với vấn đề liệu rằng lẽ phải thuộc về quốc gia nào, Hegel cho rằng lịch sử sẽ phán quyết "Lịch sử thế giới là lời phán xét của thế giới". Nói cách khác, điều gì sẽ xảy ra là điều tất đúng - một dạng lập luận có thể biện minh cho cái lý “sức mạnh tạo nên lẽ phải”.

Tương tự như quan điểm cho rằng cá nhân không thể nhận thức được chính mình nếu tách rời khỏi quốc gia, một quốc gia không thể tách rời khỏi muối quan hệ với các quốc gia khác - Tinh Thần Thế Giới vốn vận hành xuyên suốt dòng lịch sử của nhân loại. Mối quan hệ với các quốc gia riêng lẻ là bằng chứng tối hậu, biện minh cho sự tồn tại của Tinh Thần Thế Giới vượt lên trên gianh giới của mọi quốc gia. Tinh thần ấy là lời phán xét của lịch sử nhân loại dành cho các quốc gia riêng lẻ và hữu hạn, “bởi lịch sử là toà án công lý tối cao của thế giới"

9. Chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx

Karl Marx(9) là vị triết gia vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản, người đứng đầu trong bộ ba danh nhân: Marx-Engels-Lenin. Tác phẩm mang tính đại chúng nhất của ông là Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (The Manifesto of the Communist Party) trong đó có phần góp của Friedrich Engels. Tác phẩm bất hủ mang tính kinh viện của ông là bộ Tư bản (Das Kapital). Hầu hết những nguyên lý chủ yếu của cộng sản được đề cập bên dưới đây đều thuộc về tư tưởng của Marx (Engels nhìn nhận vai trò chủ đạo của Marx đối với "những đứa con tinh thần " chung của hai người)

Chủ nghĩa cộng sản

- Định nghĩa: Trái ngược với những giả định mang thành kiến sai lầm, cho chủ nghĩa cộng sản, về bản chất, là bộ môn triết học cổ xuý cho “việc công hữu hoá các phương tiện sản xuất” Không cá nhân nào (hay nhóm người nào) được độc quyền chiếm hữu tài sản, ngoại trừ những vật dụng thuộc về nhu cầu cá nhân, bởi lẽ tài sản vốn thuộc về cộng đồng (toàn thể nhân dân ) Một khi tài sản bị tư hữu, "tình trạng người bóc lột người" tất xảy ra.

Học thuyết giá trị lao động

Giá trị hàng hoá mang tính đặc trưng cho giờ công lao động mà con người đã bỏ ra trong quá trình tạo ra sản phẩm. Số lượng giờ công nhân càng lớn, giá thành của sản phẩm càng cao. “Chúng ta thấy rằng yếu tố quyết định quy mô giá trị của bất kỳ món hàng nào chính là lượng công sức cần thiết mà xã hội đã bỏ ra.... Vì thế, giá trị của một món hàng hoá sẽ không đổi nếu thời gian lao động dành cho quá trình sản xuất nó ra cũng giữ nguyên không đổi”(9)
Tuy nhiên, một món hàng vô dụng, bất kể thời gian lao động mà người ta dành ra để tạo ra nó, sẽ không đáng một giá nào cả; bởi lẽ nếu không có giá trị sử dụng, một món hàng sẽ trở thành vô giá trị.

Xã hội không giai cấp

Theo Engels, học thuyết có giá trị bậc nhất của Marx là đấu tranh giai cấp (Inherent Class War), vạch ra sự xung đột tất yếu giữa hai tầng lớp xã hội có mâu thuẫn không thể dung hoà: giới chủ tư bản (giới tư sản - the Bourgeoisie) và giới lao động (giới vô sản - the Proletariat). Do lợi ích của hai giai cấp này đối kháng hoàn toàn và mâu thuẫn trực tiếp với nhau, giải pháp duy nhất là loại trừ đi giai cấp tư sản - Tầng lớp không cống hiến sức lao động cho xã hội, và vì thế họ là những kẻ ăn bám xã hội. Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, mọi người phải lao động và cống hiến sức lao động của mình. "Mỗi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu" (From each according to his abilities, to each accoding to his needs.)

Mặt khác, giới tư sản chịu trách nhiệm đối với một số tệ nạn trong xã hội như: Họ đã bóc lột nhân công bằng cách trả lương ít hơn những gì mà công nhân có quyền được hưởng. Họ đã đối xử với công nhân như một loại hàng hoá trên thị trường, thu nhập của công nhân phụ thuộc vào sự trồi sụt thất thường của thị trường, không được xét theo công sức lao động đã bỏ ra. Hơn nữa, họ còn góp phần thương mại hoá hầu hết mọi nghề nghiệp, thậm chí cả một số giá trị đạo đức (chẳng hạn như nạn gả bán trong hôn nhân).

Bằng cách loại trừ tầng lớp tư bản, xã hội sẽ an bình với sự tồn tại của một giai cấp duy nhất. Đó là một xã hội không còn giai cấp, được cấu thành bởi những người cống hiến sức lao động chân tay và hoạt động sáng tạo trí óc của họ.

Chuyên chính vô sản

Trong một xã hội như thế, giới vô sản (công nhân), giai cấp duy nhất còn lại, sẽ đảm nhận mọi trách nhiệm trong xã hội, không chỉ giới hạn trong lãnh vực lao động và quản lý lao động, mà cả trong lãnh vực tổ chức và quản lý chính quyền. Xét đến phần đóng góp của giai cấp vô sản cho quốc gia, chỉ có họ mới được quyền thống trị. Vì thế, chính thể của họ phải là chế độ chuyên chính vô sản (Dictatoship of the Proletariat). Họ, những người vô sản, sẽ tự làm chủ vận mệnh đời mình. Và khi thời điểm chín muồi, khi quốc gia không còn cần thiết trong một thế giới chỉ bao gồm những người vô sản, con người sẽ có được một xã hội đại đồng, không còn ranh giới giữa các quốc gia. (Quan điểm về một thế giới đại đồng đã từng là đề tài tranh luận của nhiều nhà tư tưởng Mác- xit quốc tế)

Thuyết bạo lực cách mạng

Trong quá trình đấu tranh giai cấp, tầng lớp thống trị không dễ dàng tự nguyện rời bỏ sự giàu có, vốn tư bản và quyền lực của họ. Vì thế giai cấp vô sản sẽ phải dùng đến vũ lực, thậm chí là bạo lực cách mạng khi cần thiết. Bởi lẽ tài sản và quyền lực ấy thuộc về quyền lợi chính đáng của giai cấp lao động, giới vô sản có đủ lý lẽ để giành lại bằng vũ lực “Những người cộng sản... công khai tuyên bố rằng các mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng vũ lực lật đổ mọi ách thống trị hiện hành. Hãy để các tầng lớp thống trị run rẩy trước một cuộc cách mạng của những người cộng sản...Hỡi những người lao động trên toàn thế giới, hãy đoàn kết lại!” Bản tuyên ngôn của Đảng Cộng sản kết thúc với những lời lẽ hùng hồn như thế.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Mọi hàng hoá đều là vật chất, và hàng hoá vật chất là nguồn gốc của quyền lực. Kiểm soát được vốn sản suất là kiểm soát được tất cả. Vì thế, nhất thiết nhà nước phải tập trung kiểm soát mọi phương tiện sản xuất. "Lịch sử tư tưởng của nhân loại chứng minh điều gì khác hơn là khả năng tạo ra các thành quả trí tuệ thay đổi theo tỷ lệ so với sự thay đổi về khả năng sản xuất ra các thành quả vật chất? Ý tưởng thống trị của mỗi thời đại mãi là ý tưởng của giai cấp thống trị."

Kinh tế quyết định luận

Kinh tế quyết định luận ( Economic Determinism) là học thuyết cho rằng dòng lịch sử nhân loại được quyết định bởi các thời kỳ phát triển kinh tế, cuối cùng hướng mọi quốc gia tiến đến chủ nghĩa xã hội của những người cộng sản (Communitic Socialism). Đó là hệ quả tất yếu. Cho dù các quốc gia có định hướng đi đến mục đích ấy hay không, chủ nghĩa cộng sản vẫn sẽ phát triển từ tất cả mọi hệ thống xã hội hiện hành, bởi lẽ mỗi xã hội đều mang trong mình “những mầm mống băng hoại của chính nó”. Theo những người cộng sản, một cuộc cách mạng chưa dẫn đến thành công bởi vì "thời cơ của nó chưa chín muồi".

Các biện pháp cải cách xã hội

Bản tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nêu ra 10 biện pháp cải cách xã hội, được tóm tắt dưới đây như sau:

1. Xoá bỏ mọi hình thức tư hữu đất đai. Sử dụng đất đai cho mục đích công cộng.
2. Áp dụng mức thuế thu nhập có tính luỹ tiến.
3. Xoá bỏ mọi quyền thừa kế.
4. Tịch thu tài sản của tất cả bọn phản cách mạng và những kẻ đào tẩu khỏi đất nước.
5. Tập trung quản lý tiền tệ bằng bộ máy Ngân hàng nhà nước, hoạt động với vốn nhà nước và cơ chế độc quyền.
6. Tập trung quyền quản lý các phương tiện thông tin và giao thông trong tay nhà nước.
7. Phát huy quyền làm chủ của nhà nước đối với cá xí nghiệp và cơ xưởng sản xuất; tập trung quản lý việc khai thác đất hoang, cải tạo đất trồng theo quy hoạch chung.
8. Xác lập quyền bình đẳng của mọi người đối với nghĩa vụ lao động. Đầu tư phát triển công nghiệp, đặc biệt dành cho sản xuất nông nghiệp.
9. Kết hợp phát triển nông nghiệp với các nghành công nghiệp chế biến; dần dần tiến đến xoá bỏ sự cách biệt giữa thành thị và thôn quê bằng các biện pháp điều phối dân cư.
10. Thực hiện giáo dục miễn phí cho mọi trẻ em tại các trường học công lập. Xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em hiện hành. Kết hợp giáo dục với trình độ sản xuất công nghiệp.


Ghi chú:

(1) Plato (429-347 trước CN ): Nhà triết học Duy tâm cổ Hy Lạp, học trò của Socrates và là thầy của Aristotle. Ông là người sáng lập ra Chủ nghĩa duy tâm khách quan, xem "ý niệm " và vĩnh cửu và không phụ thuộc vào không gian cũng như thời gian. Theo "Sổ tay danh nhân thế giới" của Nhà xuất bản Thanh Niên; năm 1999 - khoảng 387 trước CN, Plato lập Viện hàn lâm tại Athens (có thể được xem là trường đại học tổng hợp đầu tiên của châu Âu) và lãnh đạo học viện ấy cho đến khi qua đời. Tác phẩm của ông gồm 65 tập, phần lớn là các bài đối thoại triết học, trong số đó, có Symposium (về Tình yêu), Phaedo (ghi lại những lời giảng của Socrates về linh hồn bất diệt), Chế độ cộng hoà (về nhà nước lý tưởng), Không tưởng, Theaetetus (về bản chất tri thức) và Timaeus ( về bản chất của thế giới vật chất). (ND)

(2) Senate: Thượng viện của quốc hội lập pháp ở một quốc gia như Pháp, Mỹ và Úc. Vào thời La Mã cổ đại, Senate là hội đồng nhà nước tối cao, được gọi là viện nguyên lão.

(3) Người dịch không tìm được thuật ngữ Việt Nam tương ứng với thuật ngữ này. Căn cứ vào khái niệm được trình bày ở trên, người dịch xin đề xuất được sử dụng cụm từ "Chính thể hùng bá." (ND)

(4)Aristotle (384-322 trước CN ):
Nhà triết học cổ đại Hy Lạp, học giả bách khoa, học trò của Plato và gia sư của Alexander Đại đế. Karl Marx gọi ông là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại. Ông là nhà duy tâm khách quan, tiến sát đến chủ nghĩa duy vật. Năm 335 trước Công Nguyên, ông mở trường và thư viện (the Lyceum) tựa Athens. Các tác phẩm còn sót lại của ông, dưới dạng các bài thuyết giảng, tập hợp thành một hệ thống phân tích luận bao gồm nhiều lãnh vực: sinh học, vật lý, tâm lý, luận lý, chính trị, đạo đức, siêu hình, thi ca và hùng biện. Vào thời Trung Cổ, các tác phẩm ấy đã trở thành cơ sở nền tảng của ngành triết học kinh viện. (ND)

(5) Saint Thomas Aquinas (1225-1274): Triết gia và nhà thần học người Ý thời Trung Cổ. Năm 1243, ngài gia nhập dòng tu Thánh Đa Minh, Ngài có công luận giải các công trình Aristotle, Thánh Kinh và các công trình triết học, thần học khác. Nhờ công sức của ngài , tư tưởng của Aristotle đã được chấp nhận trong công đồng Thiên Chúa Giáo Tây Âu. Ngài phân định sự khác biệt giữa đối tượng nằm trong phạm vi khai phá bới lý trí của con người và những gì chỉ có thể phát lộ nhờ thiên khải. Những lập luận của ngài về vấn đề sự tồn tại của Thượng đế vẫn có ảnh hưởng cho đến ngày này. Ngài được liệt vào hàng Thánh năm 1323, được phong làm Tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1567 và được chính thức công nhận là vị thánh bảo hộ của các trường công giáo vào năm 1880. (ND)

(6) Niccolo Machiavelli (1469-1527): văn sĩ, chính trị gia Ý thời Phục Hưng. Năm 29 tuổi, ông giữ chức thủ tướng, nắm trọn quyền điều khiển bộ máy nhà nước cộng hoà Florence (thời kỳ nước Ý bị chia sẻ vì sự tranh giành của các nước láng giềng). Năm 1952, dòng họ Médicis tái chiếm quyền lực, cách chức và giam cầm ông. Sau khi tự do, ông chuyên tâm nghiên cứu và sáng tác, để lại một số truyện ngắn, hài kịch và nhiều chuyên luận chính trị, quân sự, lịch sử. Về quan niệm, ông không chấp nhận mọi yếu tố siêu nhiên, định mệnh và may rủi; tất cả điều đó ý chí, tâm hồn và hành động của con người quyết định. Đó là tính cách nhất quán của chính trị gia Machiavelli và nghệ sĩ Machiavelli, con người mang đầy khát vọng xây dựng một nước Ý thống nhất, tự do, bình đẳng và một chính quyền vững mạnh và trật tự xã hội ổn định. (Theo Sổ tay danh nhân thế giới, Nhà xuất bản hanh niên, 1999) (ND)

(7) Thomas Hobbes (1588 - 1679): Triết gia Anh, người phát triển một hệ thống học thuyết có liên quan đến bản chất của con người và xã hội. Ông tin rằng về cơ bản, mọi động cơ của con người là ích kỷ; vì thế phương cách duy nhất để duy trì sự ổn định của xã hội là xây dựng một thể chế xã hội vững mạnh đặt dưới sự điều hành của một nhà cai trị toàn quyền. Tác phẩm "Levithan thực hiện" của ông thể hiện rõ quan điểm nói trên. (ND)

(8) Georg Wihelm Friedrich Hegel ( 1770 - 1831 ): Nhà triết học duy tâm khách quan, đại diện cho nền triết học cổ điển Đức, cha đẻ của phép biện chứng. Các tác phẩm của ông bao gồm: Hiện tượng luận tinh thần (1807), Cơ sở triết học (1811), Khoa học logíc (3 tập, 1812 - 1816 ), Khoa học triết học (1817), Triết học pháp quyền (1821 ). Sau khi ông mất, môn đệ của ông cho xuất bản những bài giảng của ông về lịch sử triết học (1833 - 36), Mỹ học (1836 ) và Triết học lịch sử (1837), Triết học duy tâm khách quan ( tuyệt đối )Sổ tay danh nhân thế giới, Nhà xuất bản Thanh Niên ). (ND)

(9)Karl Henrich Marx (1818 - 1883 ) : Triết gia chính trị và kinh tế Đức (nước Phổ). Ông phát hiện ra những quy luật chi phối sự phát triển của xã hội với lý thuyết được xem là "sự giải thích lịch sử theo khía cạnh kinh tế". Là người sáng lập và là linh hồn của Quốc tế thứ nhất, ông cùng với Engels sáng lập phong trào xã hội chủ nghĩa hiện đại, đoàn kết tập hợp quần chúng lao động đấu tranh vì quyền lợi chung. Ông cùng Engels biên soạn các tác phẩm: Gia đình thần thánh (1845), Hệ tư tưởng Đức (1845 - 46), Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản (1848). Ngoài ra ông còn viết các tác phẩm lớn như: Ngày 18 Tháng Sương Mù của Louis Bonaparte (1851 - 52 ), Phê phán kinh tế chính trị học (1859), Nội chiến pháp (1871 ), Phê phán cương lĩnh Gotha (1857) và đặc biệt là bộ Tư Bản qồm 3 quyển (867, 1885, 1894 do Engels hoàn chỉnh quyển II và III).
của ông có ảnh hưởng lớn đến nhiều nhà tư tưởng về sau (Theo

bantinsom.com ( theo chungta )