Thứ năm, 13/08/2009, 22:13 GMT+7
Triết lý chính trị- xã hội & pháp luật (Phần 2)
5. Triết lý chính trị của Niccolo Machiavelli : Niccolo Machiavelli(6)đề xuất một học thuyết biện minh cho giới cai trị trong việc sử dụng mọi phương tiện cần thiết, công chính lẫn ám muội, để duy trì một chính phủ vững mạnh và ổn định trật tự xã hội "mục đích biện minh cho phương tiện," dẫu rằng mục đích ấy chỉ mang đến lợi ích cho chế độ cai trị độc tài.
Để có được quyền lực chính trị, người ta cần phải được sinh ra trong một gia đình thế gia vọng tộc, hoặc phải chiếm đoạt quyền lực bằng ý trí, tài năng thậm chí bằng thủ đoạn. khi đã thâu tóm quyền hành đạt được từ thủ đoạn, với sự hỗ trợ của một số kẻ đồng mưu (những có đủ tham vọng và tính gian hùng cần thiết để tham gia thực hiện những mưu đồ xấu xa), người ta cần phải loại trừ họ. Hơn nữa, trong quá trình tiêu diệt các kẻ thù trong nước, người cầm quyền phải kiên quyết, nhẫn tâm và không được phép xót thương - nếu không, " sau một vài cơn mưa, cỏ dại lại mọc đầy."

Lòng cảm thông của kẻ cai trị dành cho thần dân phải được giới hạn ở mức cần thiết để có thể duy trì trọn vẹn quyền lực của bản thân. trung tín, tôn giáo, v.v.... với mục đích xây dựng một hình ảnh tốt đẹp trước công chúng, nhưng ông ta thường xuyên phải luôn hành động ngược lại với ý tưởng ấy. Trên tất cả, ông ta cần phải hình thành nên một tính cách đạo đức giả và mềm dẻo. Chỉ có một vài người gần gũi và nhạy cảm mới phát hiện ra tính cách thực của ông ta, nhưng thông thường họ không dám phản kháng hay vạch trần bộ mặt giả dối của kẻ cai trị đầy quyền lực. Nhờ đó, những kẻ cai trị mới duy trì được địa vị tôn quý của họ.

Thuật làm vua

Tác phẩm kinh điển của Machiavelli, "Thuật làm vua" (The Prince), phân tích đến phép cai trị của các bậc vua chúa, đặt vấn đề liệu rằng họ nên tin tưởng vào thần dân đến mức độ nào, liệu rằng họ nên sử dụng đến những phương cách gì để điều phục dân chúng. Machiavelli kết luận rằng các bậc vua chúa phải sử dụng đến luật pháp lẫn vũ lực. Do luật pháp thường tỏ ra kém hiệu quả, vũ lực luôn được cần đến - mặc dù xét theo một góc nhìn nào đó, vũ lực chỉ được sử dụng để đối phó và trấn áp thú dữ.

Tóm lại, các bậc vua chúa nên thể hiện một tính cách hai mặt: thèm khát quyền lực như một mãnh sư, đồng thời phải ranh ma và xảo quyệt như một con cáo. Làm vua chúa, phải luôn cảnh giác, phải luôn nhớ rằng "mãnh sư bị sập bẫy, cũng như một chú cáo ở giữa bầy sói, không có khả năng tự vệ" hai mặt tính cách nói trên hỗ trợ cho nhau. Như con cáo, vua chúa phải che giấu bản chất thực sự của mình, tỏ vẻ đức độ ngay cả khi hành xử xấu xa. Như con mãnh sư, ông ta cần phải biết tàn nhẫn. Chỉ có những vị vua quá xuẩn ngốc mới có lòng nhân từ và đức độ thực sự - họ sẽ đánh mất vương quốc của mình vào tay kẻ thù. Tuy nhiên, để giữ được quyền lực, vua chúa buộc phải tạo dựng cho mình một hình ảnh của người cai trị đức độ.

Các thể chế Chính quyền

Machiavelli nhận định rằng trong suốt lịch sử nhân loại, chỉ có hai chính thể cơ bản: quân chủ và cộng hoà, trong đó cộng hoà là thể chế tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, chế độ cộng hoà chẳng thể hoạt động hiệu quả nếu không có những công dân có phẩm chất và đức độ. Trong trường hợp nhân tâm đã loạn, chỉ có chế độ quân chủ là khả thi. Theo ông, mục đích "trấn áp lòng người "có thể biện minh cho cung cách cai trị cứng rắn kết hợp với các hình thức mị dân. Nói cho cùng, "mục đích biện minh cho phương tiện."

6. Triết lý chính trị của Thomas Hobbes

Triết lý chính trị của Thomas Hobbes(7) đặt trên nền tảng học thuyết khế ước xã hội (Social Contract theory), học thuyết nền tảng của các thể chế dân chủ hiện đại. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng các quyền bất khả tước đoạt của con người, theo niềm tin của Hobbes, là các quyền tự nhiên (natural rights);divine Being) ban cho.

Hobbes tuyên bố rằng con người, về cơ bản, là một tạo vật sa đoạ và không đáng tin cậy, rằng họ luôn phải tự bảo vệ bản thân giữa các đồng loại chẳng khác gì những con thú trong rừng vậy! Mỗi cá nhân luôn cảm thấy cần thiết phải đóng kín cửa đề phòng kẻ trộm đột nhập, thậm chí phải luồn ví tiền dưới gối đề phòng kẻ trộm trong chính gia đình mình. Con người không chỉ sa đoạ mà còn thích gây gổ và hiếu chiến đến độ, ngoại trừ những khoảnh khắc nghỉ ngơi giữa các cuộc khẩu chiến, họ liên tục xung đột, cạnh khoé và chống phá lẫn nhau.

Có ba lý do lý giải tính hiếu chiến của con người: cạnh tranh (để giành quyền sống cho mình), thiếu tin cậy vào người khác (nhu cầu tự bảo toàn) và thèm khát vinh quang (nhu cầu được kính trọng). Cạnh tranh đưa con người đến bạo lực, thiếu lòng tin làm nảy sinh khuynh hướng tự vệ, và hãnh tiến đòi con người xây dựng các hình thức ngoại giao tinh tế.
trong khi khái niệm nhân quyền (human rights) thời hiện đại được xem là các quyền được một thực thể thần thánh (

Quyền tự nhiên

Theo Hobbes, quy luật thống trị cung cách ứng xử của mọi tạo vật là luật rừng, "luật nanh vuốt " (the law of tooth and claw). Với quy luật khốc liệt ấy, sức mạnh tạo nên lẽ phải. Trong rừng, mãnh sư ưu tiên giành lấy những gì nằm trong khả năng của nó; sau đó các loài thú khác lần lượt dành lấy phần của chúng. Con người cũng hành động như thế và nếu cần thiết, thậm chí họ còn tàn sát lẫn nhau hoặc biến đồng loại thành nô lệ. "Mỗi người có quyền làm mọi sự trong khả năng, ngay cả khi làm chủ thân thể của kẻ khác."

Quyền bình đẳng giữa con người

Như đề cập ở trên, quy luật tự nhiên cho phép mỗi người, trong khả năng của mình, làm mọi việc theo ý muốn - bởi lẽ trong thế giới dã thú, “chẳng có gì xem là bất chính cả”. Mặt khác, để tránh bị kháng cự và phản công, con người phải xảo trá hơn cả dã thú. Một người yếu đuối, nếu được trang bị vũ khí lợi hại và có chiến thuật hiệu quả, hoàn toàn có thể hạ gục một người khoẻ mạnh. Hobbes chỉ ra rằng, do con người có năng lực thể chất không đồng đều, các cá nhân yếu đuối thường có xu hướng tập hợp thành nhóm để tự vệ hoặc để chống lại kẻ thù hùng mạnh. "Xét về mặt thể lực, kẻ yếu vẫn có đủ khả năng tiêu diệt kẻ mạnh bằng thủ đoạn hiểm độc, hoặc bằng cách liên kết với những ai có cùng mục tiêu như họ." Về phương diện này, Hobbes đồng tình với phương châm cổ: " Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết" (United we stand, divided we fall).

Luật tự nhiên

Hobbes tin tưởng rằng, xét theo luật cơ bản của tự nhiên, cá nhân phải bảo vệ cuộc sống của chính mình bằng mọi cách và với mọi giá, rằng không có gì quý hơn mạng sống và đáng phải hy sinh mạng sống cả. “Tự bảo toàn sinh mạng” là quy luật tự nhiên đầu tiên, thúc giục con người “tìm kiếm và theo đuổi hoà bình.” Nỗi sợ chết hay sợ tổn thương, kết hợp với bản năng bảo toàn sinh mạng, ngăn không cho con người làm hại bản thân và người khác. Quy luật đầu tiên ấy (luật tự bảo toàn sinh mạng) thúc đẩy con người tuân phục quy luật thứ hai, liên quan đến khế ước xã hội - bởi lẽ sinh mạng chỉ được bảo toàn tốt nhất trong một xã hội, nơi mà sự an bình lâu dài được xác lập trên nền tảng của một khế ước cộng đồng.

Khế ước xã hội

Đối với Hobbes, khế ước xã hội là phương tiện thiết yếu để xác lập các quyền công dân trên cơ sở của quy tắc vàng trong phép xử thế (“Hãy dành cho người khác những gì mà bạn muốn nhận được từ họ”), thay cho quy luật tự nhiên “mạnh được yếu thua". Các cá nhân có được quyền công dân bằng cách chấp nhận một thoả ước cộng đồng được xây dựng trên nguyên tắc “cá nhân sẵn sàng, vì mục đích hoà bình, vì quyền tự nhiên của mình, bằng lòng giới hạn sự tự do của mình đến một mức độ mà, trong tình huống tương tự, những người khác cũng sẵn lòng kiềm chế như vậy." Nguyên tắc này cấu thành nên quy luật thứ hai về khế ước xã hội. Ý nghĩa và tầm quan trọng của quy luật ấy chỉ có giá trị nếu nó thoả mãn được quy luật tự nhiên đầu tiên - luật tự bảo toàn sinh mạng.

Các luật phát sinh từ khế ước xã hội

Qua phần thảo luận, rõ ràng quy luật thứ hai được phát triển từ quy luật đầu tiên; bởi lẽ con người chỉ chấp nhận tham gia khế ước xã hội với mục đích bảo đảm quyền sống của bản thân. Hobbes nhận định rằng có một số quy luật khác phát sinh từ 2 quy luật đầu tiên ấy. Ông tổng kết các quy luật như sau:

1. Con người không được làm điều gì có khả năng huỷ hoại cuộc sống bản thân ( luật tự bảo toàn sinh mạng ).

2. Cá nhân sẵn sàng, khi những người khác cũng thế, đặt mục đích hoà bình và tự bảo vệ bản thân nên trên hết; cá nhân bằng lòng với quyền tự do trong khuôn khổ mà anh ta có thể chấp nhận dành cho người khác trong tình huống tương tự (luật khế ước xã hội ).

3. Mỗi người đều thực thi các nghĩa vụ theo thoả ước ( luật công lý ).

4. Với một người thọ nhận lợi ích, từ lòng hảo tâm hay sự biết ơn của người khác, không có lý do gì khiến anh ta phải ân hận về thiện ý của mình (luật hàm ơn).

5. Mỗi người tranh đấu để tự thích ứng với cộng đồng (luật thích nghi).

6. Sau khi cảnh cáo, "cá nhân nên tha thứ cho những kẻ xúc phạm đã biết hối lỗi và mong được dung thứ" (luật vị tha).

7. Về vấn đề báo thù (lấy oán trả oán), người ta không nên xem nặng tội lỗi quá khứ, hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp ở tương lai ( luật báo thù).

8. Không ai được phép tuyên bố sự ghét bỏ hay kinh miệt người khác thông qua hành động, lời nói, dáng vẻ hay ra dấu hiệu (luật khinh miệt).

9. Mọi cá nhân thừa nhận rằng mỗi người đều bình đẳng về mặt bản chất (luật tự tôn).

10. Hội nhập vào “điều kiện chung sống hoà bình, không ai được phép giành riêng bất kỳ quyền lợi nào mà cá nhân không sẵn lòng chia sẻ cho cả cộng đồng” (luật ngã mạn và khiêm tốn).

11. Đối với những gì không phân chia được; “nếu có thể, hãy cùng thụ hưởng chung; và nếu như có thể phân chia được về mặt số lượng, hãy chia đều cho số người được quyền thụ hưởng” (luật công bằng).

12.Quyền chiếm hữu đều quyết định bằng cách rút thăm, hoặc xác định tình trạng sở hữu đầu tiên (hệ luật của công bằng)

13. “Mọi sứ giả hoà bình đều được hưởng quy chế bảo đảm an toàn” ( luật quy chế an toàn).

14. “Những cá nhân dính líu đến sự kiện tranh chấp đều phải đặt mình dưới quyền phán xử của một vị trọng tài” (luật phân xử).

Cần lưu ý rằng các điều luật nói trên, theo quan niệm của Hobbes, đều được chi tiết hoá hoặc suy luận từ quy tắc vàng trong thuật ứng xử.

Vị Quốc chủ (Levithan)

Các điều luật nói trên, quy định phận sự của các công dân tham gia khế ước xã hội, thực sự có giá trị tham khảo rất cao. Tuy nhiên, vẫn có một câu hỏi quan trọng cần được đặt ra: điều gì sẽ xảy đến nếu như một cá nhân tham gia khế ước ,vô tình hay cố ý, không thực hiện bổn phận của mình? Để trả lời, Hobbes gọi đó là vị Quốc chủ ( Levithan), một “vị thần” trong loài người. Bản thân đứng trên luật lệ, người ấy nắm quyền hành pháp tối cao trên thế giới (hay chí ít là trên một đất nước).Theo giả định, quyền lực ấy thuộc về một đấng đế vương. Tuy nhiên, nếu có một người nắm quyền lực cao hơn xuất hiện và khuất phục được bậc đế vương ấy, nhân vật ấy sẽ trở thành Vị Quốc chủ mới.

Ở quốc gia không có một vị vua nắm quyền lực tối cao, khế ước được điều hành bởi một hội đồng và quốc gia ấy được gọi là khối quy chế cộng đồng (Commonwealth by Institution). Nếu được xác lập bởi nhà vua, người nắm quyền lực tối thượng (bằng biện pháp vũ lực hoặc thông qua thoả ước giữa các đảng phái có liên quan ), nó được gọi là khối hiệp ước cộng đồng (Commonwealth by Acquisition ).

7. Triết lý dân chủ của Jean Jacques Rousseau

Triết lý dân chủ của Jean Jacques Rousseau nhấn mạnh nguyên tắc cho rằng quyền tối thượng thuộc về người dân, rằng tất cả quyền lực khác đều phụ thuộc vào quyền tối thượng ấy. Nhà nước được hình thành trên nền tảng của một khế ước xã hội có mục tiêu đảm bảo an sinh cho công dân, do vậy chủ quyền tồn tại nhằm mục đích bảo vệ cho mỗi cá nhân trong quốc gia. Khi chấp nhận tuân thủ luật pháp, các cá nhân chỉ đơn thuần uỷ thác quyền của họ vì mục đích đó. Chính phủ chỉ sở hữu quyền uỷ nhiệm, không phải là quyền lực tối thượng, xuất phát từ ý nguyện của tập hợp quần chúng thống nhất. Chính ý nguyện của khối quần chúng, một ý nguyện chung, là điều mà các viên chức nhà nước phải thực thi. Ý nguyện chung là ý nguyện hướng đến lợi ích của mọi người. Hơn nữa, bộ máy nhà nước không nên quá cồng kềnh, quốc gia cũng không nên quá lớn, gây khó khăn cho khả năng thích ứng của các công dân. Hình thức chính quyền lý tưởng nhất chỉ bao gồm một nhóm nhỏ các công chức do dân bầu ra.

Tự do và bình đẳng

Thời nguyên sơ, xã hội được tổ chức dựa theo trật tự gia đình, hình thức xã hội chân thật và gần gũi vời tự nhiên hơn cả. Theo đó, đúng ra các hình thức xã hội chính trị đương thời nên được xây dựng theo khuôn mẫu gia đình. Trong một gia đình, mỗi đứa trẻ được sinh ra với quyền tự do và bình đẳng; nguyên tắc tương tự cũng nên được sử dụng và phát huy trong những vấn đề chính trị xã hội của thời đại.

Chế độ nô lệ là ý tưởng đáng ghê tởm trong một xã hội tự do, bởi vì "sức mạnh không làm nên lẽ phải", và về mặt tự nhiên, “không ai thống trị đồng loại của mình.” Vì thế, không thể tổ chức và thể chế hoá xã hội bằng vũ lực mà phải thông qua hình thức thoả ước, thông qua một khế ước xã hội.

Quyền tối thượng bất khả chuyển nhượng

Quyền tối thượng thuộc về công dân, hay nói đúng ra, thuộc về chính kiến của tập hợp quần chúng thống nhất; bởi lẽ chỉ có một tập hợp như thế mới sở hữu một ý nguyện bất khả chuyển nhượng. Ý nguyện của mỗi cá nhân chia sẻ với nhau trong ý nguyện chung, hướng đến ích lợi chung của cả cộng đồng. Mặc dù quyền hành có thể được ủy nhiệm, ý nguyện thì không. “Chủ quyền không là gì ngoài việc thể hiện ý nguyện chung, một ý nguyện chẳng thể nào chuyển nhượng được. “Chính vì lý do đó, chủ quyền là bất khả phân cấp, bất khả chuyển nhượng.”

Ý nguyện chung

Ý nguyện chung không đơn thuần là bản liệt kê ý nguyện riêng rẽ của mỗi cá nhân. Thực chất, nó được thể hiện trong hoạt động chính trị của mỗi công dân khi anh ta thành tâm và tự nguyện, không chịu bất kỳ một áp lực nào, đưa ra quyết định độc lập của mình bằng một lá phiếu.

Quá trình tổng hợp những lá phiếu có thể chỉ cho thấy khát vọng riêng của mỗi công dân; nhưng ý nguyện chung được phản ánh qua thái độ tự nguyện và thành tâm của mỗi cá nhân, tham gia bỏ phiếu vì những điều tốt đẹp cho mọi công dân. “Thông thường, có điều khác biệt rất lớn giữa ý nguyện toàn thể và ý nguyện chung. Ý nguyện chung chỉ liên quan đến lợi ích chung. Ý nguyện toàn thể có liên quan đến những lợi ích riêng, chỉ là một bản tổng kết những ý nguyện riêng rẽ...ý nguyện chung lúc nào cũng đúng cả “nếu được hướng dẫn chu đáo, tránh những xu hướng bè phái và các thủ đoạn thao túng chính trị, một cộng đồng dân cư sẽ thể hiện rõ ràng ý nguyện chung của họ.”

Khế ước xã hội

Rousseau nhận định rằng với xã hội được xây dựng trên cơ sở khế ước, vận dụng sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng để chăm lo vấn đề an sinh bảo vệ tài sản của mỗi cá nhân, mọi công dân đều có quyền tự do và độc lập, chẳng phải tuân theo mệnh lệnh của ai khác ngoài chính mình.Bởi lẽ khế ước xã hội tồn tại vì vấn đề an sinh của mỗi cá nhân trong cộng đồng, nếu một thành viên vi phạm các thoả ước, anh ta đã vi phạm luật lệ của chính mình . Cá nhân ấy sẽ phải nhận lãnh hình phạt, không phải chỉ vì mục đích duy trì sự ổn định của xã hội, mà còn vì lợi ích của chính anh ta.

Khế ước xã hội được xác lập trên nguyên tắc cơ bản là: Quyền tối thượng thuộc về dân chúng (sở hữu chủ của ý nguyện bất khả quyền nhượng); quyền hành có thể chuyển giao nhưng ý nguyện thì không. Do vậy, chính phủ chỉ là người đại diện của quần chúng, hoạt động và thực thi ý nguyện chung. Chính phủ chẳng bao giờ đạt được quyền thống trị tối thượng và tối hậu.

Về nhà nước lý tưởng, Rousseau chọn chính thể cộng hoà cai trị bằng luật pháp, viên chức chính phủ do dân bầu chọn và thi hành ý nguyện chung. Tin rằng cho cấu chính trị đặc thù chỉ có vai trò thứ yếu, ông đưa ra nhận sét chung như sau: chế độ dân chủ phù hợp với nước nhỏ; chế độ quý tộc với các nước cỡ trung bình; và chế độ quân chủ với các nước lớn. Ông kêt luận rằng "nếu có sự tồn tại của nòi giống thần thánh, hẳn là họ cũng tự trị theo thể chế dân chủ."
bantinsom.com ( theo chungta )