|
Triết lý chính trị- xã hội & pháp luật (Phần 2)
5. Triết lý chính trị của Niccolo Machiavelli : Niccolo Machiavelli(6)đề xuất một học thuyết biện minh cho giới cai trị trong việc sử dụng mọi phương tiện cần thiết, công chính lẫn ám muội, để duy trì một chính phủ vững mạnh và ổn định trật tự xã hội "mục đích biện minh cho phương tiện," dẫu rằng mục đích ấy chỉ mang đến lợi ích cho chế độ cai trị độc tài.
Lòng cảm thông của kẻ cai trị dành cho thần dân phải được giới hạn ở mức cần thiết để có thể duy trì trọn vẹn quyền lực của bản thân. trung tín, tôn giáo, v.v.... với mục đích xây dựng một hình ảnh tốt đẹp trước công chúng, nhưng ông ta thường xuyên phải luôn hành động ngược lại với ý tưởng ấy. Trên tất cả, ông ta cần phải hình thành nên một tính cách đạo đức giả và mềm dẻo. Chỉ có một vài người gần gũi và nhạy cảm mới phát hiện ra tính cách thực của ông ta, nhưng thông thường họ không dám phản kháng hay vạch trần bộ mặt giả dối của kẻ cai trị đầy quyền lực. Nhờ đó, những kẻ cai trị mới duy trì được địa vị tôn quý của họ. Thuật làm vua
Tóm lại, các bậc vua chúa nên thể hiện một tính cách hai mặt: thèm
khát quyền lực như một mãnh sư, đồng thời phải ranh ma và xảo quyệt như
một con cáo. Làm vua chúa, phải luôn cảnh giác, phải luôn nhớ rằng
"mãnh sư bị sập bẫy, cũng như một chú cáo ở giữa bầy sói, không có khả
năng tự vệ" hai mặt tính cách nói trên hỗ trợ cho nhau. Như con cáo,
vua chúa phải che giấu bản chất thực sự của mình, tỏ vẻ đức độ ngay cả
khi hành xử xấu xa. Như con mãnh sư, ông ta cần phải biết tàn nhẫn. Chỉ
có những vị vua quá xuẩn ngốc mới có lòng nhân từ và đức độ thực sự -
họ sẽ đánh mất vương quốc của mình vào tay kẻ thù. Tuy nhiên, để giữ
được quyền lực, vua chúa buộc phải tạo dựng cho mình một hình ảnh của
người cai trị đức độ. Machiavelli nhận định rằng trong suốt lịch sử nhân loại, chỉ có hai chính thể cơ bản: quân chủ và cộng hoà, trong đó cộng hoà là thể chế tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, chế độ cộng hoà chẳng thể hoạt động hiệu quả nếu không có những công dân có phẩm chất và đức độ. Trong trường hợp nhân tâm đã loạn, chỉ có chế độ quân chủ là khả thi. Theo ông, mục đích "trấn áp lòng người "có thể biện minh cho cung cách cai trị cứng rắn kết hợp với các hình thức mị dân. Nói cho cùng, "mục đích biện minh cho phương tiện."
6. Triết lý chính trị của Thomas Hobbes Quyền tự nhiên Theo Hobbes, quy luật thống trị cung cách ứng xử của mọi tạo vật là luật rừng, "luật nanh vuốt " (the law of tooth and claw). Với quy luật khốc liệt ấy, sức mạnh tạo nên lẽ phải. Trong rừng, mãnh sư ưu tiên giành lấy những gì nằm trong khả năng của nó; sau đó các loài thú khác lần lượt dành lấy phần của chúng. Con người cũng hành động như thế và nếu cần thiết, thậm chí họ còn tàn sát lẫn nhau hoặc biến đồng loại thành nô lệ. "Mỗi người có quyền làm mọi sự trong khả năng, ngay cả khi làm chủ thân thể của kẻ khác." Quyền bình đẳng giữa con người
Như đề cập ở trên, quy luật tự nhiên cho phép mỗi người,
trong khả năng của mình, làm mọi việc theo ý muốn - bởi lẽ trong thế
giới dã thú, “chẳng có gì xem là bất chính cả”. Mặt khác, để tránh bị
kháng cự và phản công, con người phải xảo trá hơn cả dã thú. Một người
yếu đuối, nếu được trang bị vũ khí lợi hại và có chiến thuật hiệu quả,
hoàn toàn có thể hạ gục một người khoẻ mạnh. Hobbes chỉ ra rằng, do con
người có năng lực thể chất không đồng đều, các cá nhân yếu đuối thường
có xu hướng tập hợp thành nhóm để tự vệ hoặc để chống lại kẻ thù hùng
mạnh. "Xét về mặt thể lực, kẻ yếu vẫn có đủ khả năng tiêu diệt kẻ
mạnh bằng thủ đoạn hiểm độc, hoặc bằng cách liên kết với những ai có
cùng mục tiêu như họ." Về phương diện này, Hobbes đồng tình với phương châm cổ: " Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết" (United we stand, divided we fall).
Hobbes tin tưởng rằng, xét theo luật cơ bản của tự nhiên,
cá nhân phải bảo vệ cuộc sống của chính mình bằng mọi cách và với mọi
giá, rằng không có gì quý hơn mạng sống và đáng phải hy sinh mạng sống
cả. “Tự bảo toàn sinh mạng” là quy luật tự nhiên đầu tiên, thúc giục
con người “tìm kiếm và theo đuổi hoà bình.” Nỗi sợ chết hay sợ tổn
thương, kết hợp với bản năng bảo toàn sinh mạng, ngăn không cho con
người làm hại bản thân và người khác. Quy luật đầu tiên ấy (luật tự bảo
toàn sinh mạng) thúc đẩy con người tuân phục quy luật thứ hai, liên
quan đến khế ước xã hội - bởi lẽ sinh mạng chỉ được bảo toàn tốt nhất
trong một xã hội, nơi mà sự an bình lâu dài được xác lập trên nền tảng
của một khế ước cộng đồng.
Đối với Hobbes, khế ước xã hội là phương tiện thiết yếu để
xác lập các quyền công dân trên cơ sở của quy tắc vàng trong phép xử
thế (“Hãy dành cho người khác những gì mà bạn muốn nhận được từ họ”), thay cho quy luật tự nhiên “mạnh được yếu thua". Các cá nhân có được quyền công dân bằng cách chấp nhận một thoả ước cộng đồng được xây dựng trên nguyên tắc “cá
nhân sẵn sàng, vì mục đích hoà bình, vì quyền tự nhiên của mình, bằng
lòng giới hạn sự tự do của mình đến một mức độ mà, trong tình huống
tương tự, những người khác cũng sẵn lòng kiềm chế như vậy." Nguyên
tắc này cấu thành nên quy luật thứ hai về khế ước xã hội. Ý nghĩa và
tầm quan trọng của quy luật ấy chỉ có giá trị nếu nó thoả mãn được quy
luật tự nhiên đầu tiên - luật tự bảo toàn sinh mạng.
Cần lưu ý rằng các điều luật nói trên, theo quan niệm của
Hobbes, đều được chi tiết hoá hoặc suy luận từ quy tắc vàng trong thuật
ứng xử. 7. Triết lý dân chủ của Jean Jacques Rousseau Triết lý dân chủ của Jean Jacques Rousseau nhấn mạnh nguyên tắc cho rằng quyền tối thượng thuộc về người dân, rằng tất cả quyền lực khác đều phụ thuộc vào quyền tối thượng ấy. Nhà nước được hình thành trên nền tảng của một khế ước xã hội có mục tiêu đảm bảo an sinh cho công dân, do vậy chủ quyền tồn tại nhằm mục đích bảo vệ cho mỗi cá nhân trong quốc gia. Khi chấp nhận tuân thủ luật pháp, các cá nhân chỉ đơn thuần uỷ thác quyền của họ vì mục đích đó. Chính phủ chỉ sở hữu quyền uỷ nhiệm, không phải là quyền lực tối thượng, xuất phát từ ý nguyện của tập hợp quần chúng thống nhất. Chính ý nguyện của khối quần chúng, một ý nguyện chung, là điều mà các viên chức nhà nước phải thực thi. Ý nguyện chung là ý nguyện hướng đến lợi ích của mọi người. Hơn nữa, bộ máy nhà nước không nên quá cồng kềnh, quốc gia cũng không nên quá lớn, gây khó khăn cho khả năng thích ứng của các công dân. Hình thức chính quyền lý tưởng nhất chỉ bao gồm một nhóm nhỏ các công chức do dân bầu ra.
Tự do và bình đẳng
Chế độ nô lệ là ý tưởng đáng ghê tởm trong một xã hội tự
do, bởi vì "sức mạnh không làm nên lẽ phải", và về mặt tự nhiên, “không
ai thống trị đồng loại của mình.” Vì thế, không thể tổ chức và thể chế
hoá xã hội bằng vũ lực mà phải thông qua hình thức thoả ước, thông qua
một khế ước xã hội. Quyền tối thượng thuộc về công dân, hay nói đúng ra, thuộc về chính kiến của tập hợp quần chúng thống nhất; bởi lẽ chỉ có một tập hợp như thế mới sở hữu một ý nguyện bất khả chuyển nhượng. Ý nguyện của mỗi cá nhân chia sẻ với nhau trong ý nguyện chung, hướng đến ích lợi chung của cả cộng đồng. Mặc dù quyền hành có thể được ủy nhiệm, ý nguyện thì không. “Chủ quyền không là gì ngoài việc thể hiện ý nguyện chung, một ý nguyện chẳng thể nào chuyển nhượng được. “Chính vì lý do đó, chủ quyền là bất khả phân cấp, bất khả chuyển nhượng.”
Ý nguyện chung Rousseau nhận định rằng với xã hội được xây dựng trên cơ sở khế ước, vận dụng sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng để chăm lo vấn đề an sinh bảo vệ tài sản của mỗi cá nhân, mọi công dân đều có quyền tự do và độc lập, chẳng phải tuân theo mệnh lệnh của ai khác ngoài chính mình.Bởi lẽ khế ước xã hội tồn tại vì vấn đề an sinh của mỗi cá nhân trong cộng đồng, nếu một thành viên vi phạm các thoả ước, anh ta đã vi phạm luật lệ của chính mình . Cá nhân ấy sẽ phải nhận lãnh hình phạt, không phải chỉ vì mục đích duy trì sự ổn định của xã hội, mà còn vì lợi ích của chính anh ta. Khế ước xã hội được xác lập trên nguyên tắc cơ bản là: Quyền tối thượng thuộc về dân chúng (sở hữu chủ của ý nguyện bất khả quyền nhượng); quyền hành có thể chuyển giao nhưng ý nguyện thì không. Do vậy, chính phủ chỉ là người đại diện của quần chúng, hoạt động và thực thi ý nguyện chung. Chính phủ chẳng bao giờ đạt được quyền thống trị tối thượng và tối hậu. Về nhà nước lý tưởng, Rousseau chọn chính thể cộng hoà cai trị bằng luật pháp, viên chức chính phủ do dân bầu chọn và thi hành ý nguyện chung. Tin rằng cho cấu chính trị đặc thù chỉ có vai trò thứ yếu, ông đưa ra nhận sét chung như sau: chế độ dân chủ phù hợp với nước nhỏ; chế độ quý tộc với các nước cỡ trung bình; và chế độ quân chủ với các nước lớn. Ông kêt luận rằng "nếu có sự tồn tại của nòi giống thần thánh, hẳn là họ cũng tự trị theo thể chế dân chủ." bantinsom.com ( theo chungta )
Các tin khác:
▪ Khổng tử và Khổng giáo (11/08)
▪ Hành trang của người duy lý (09/08)
▪ Cái kiêu của nhà Nho (23/06)
|