Thứ sáu, 31/07/2009, 13:24 GMT+7
Khủng hoảng : Sự thất bại của CNTB hay sụp đổ niềm tin?
"Thị trường của Adam Smith chưa bao giờ tự điều tiết" - Đó là nhận định của ông Amartya Sen, người từng nhận giải Nobel Kinh tế năm 1998 và hiện là giáo viên kinh tế học và triết học ở trường Harvard. Sau đây là bài phân tích của ông đăng trên tờ Thời báo Tài chính của Anh số ra ngày 10/3/2009 về khái niệm thị trường mà cha đẻ của nền kinh tế thị trường Adam Smith đã đề cập tới.

Thời của "Thế giới mới, Chủ nghĩa Tư bản mới"?

Đúng 90 năm về trước, vào tháng 3/1919, khi đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế khác, Vladimir Lenin đã bàn về những rắc rối lớn của chủ nghĩa tư bản đương thời.

Tuy nhiên, ông đã không muốn viết một lời khai tử, ông nói: “Sẽ là sai lầm nếu tin rằng không còn cách nào thoát khỏi cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện nay”. Niềm tin đặc biệt này của Lenin, không giống như những gì ông từng nghĩ, đã được chứng minh là khá đúng.

Cho dù các thị trường Mỹ và châu Âu gặp phải nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn trong những năm 1920, dẫn tới cuộc Đại Suy thoái những năm 1930, một thời gian dài sau khi kết thúc đại chiến thế giới hai, song nền kinh tế thị trường đã năng động một cách khác thường, khiến cho kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh chưa từng thấy trong suốt 60 năm qua, nhưng không bao giờ còn được như thế nữa. Ít nhất là không phải bây giờ.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã bất ngờ bùng phát vào mùa thu năm ngoái tại Mỹ và lan nhanh khủng khiếp, các chính phủ đã nỗ lực hết sức để ngăn chặn nó nhưng đạt rất ít thành công mặc dù các cam kết dành cho các quỹ công được đưa ra nhiều chưa từng thấy.

Vấn đề đặt ra gay gắt nhất hiện nay không phải là về hồi kết của chủ nghĩa tư bản mà là về bản chất của chủ nghĩa tư bản và sự cần thiết phải thay đổi nó. Đề cập tới chủ nghĩa tư bản cũ và mới là chủ đề chiếm phần lớn thời lượng của các cuộc thảo luận sôi nổi về “Thế giới mới, Chủ nghĩa Tư bản mới” do Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, cựu Thủ tướng Anh Tony Blair và Thủ tướng Đức Angela Merkel khởi xướng hồi tháng Giêng tại Paris.

Các nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới tại hội thảo
“Thế giới mới, Chủ nghĩa Tư bản mới” (Ảnh: patdollard.com)


Cuộc khủng hoảng hiện được cho là “vô phương cứu chữa” này rốt cuộc cũng sẽ qua đi, nhưng các câu hỏi về các hệ thống kinh tế tương lai vẫn còn đó. Liệu chúng ta có thực sự cần một “chủ nghĩa tư bản mới”, nói theo một cách nào đó là mang nhãn mác tư bản, hơn là một hệ thống kinh tế không đơn nhất dựa trên nhiều định chế khác nhau được chọn lọc một cách thực dụng và các giá trị mà chúng ta bảo vệ bằng lý chí?

Liệu chúng ta có nên tìm kiếm một chủ nghĩa tư bản mới hay một “thế giới mới” – cụm từ cũng được nêu ra trong hội nghị ở Paris nói trên – không mang hình dáng của tư bản đặc thù? Đây không chỉ là vấn đề mà chúng ta đang đối mặt hiện nay, mà theo tôi, đó cũng là câu hỏi mà cha đẻ của các nền kinh tế hiện đại, Adam Smith, từng đặt ra hồi thế kỷ 18 khi ông công bố bản phân tích đầu tiên của mình về sự vận hành của nền kinh tế thị trường.

Chủ nghĩa Tư bản dưới con mắt của Adam Smith là gì? 

Adam Smith (Ảnh: FT.com)


Smith chưa bao giờ dùng thuật ngữ chủ nghĩa tư bản (ít nhất là theo những khảo liệu mà tôi tìm lại được), và cũng rất khó trích ra từ các tác phẩm của ông bất kỳ học thuyết nào về quyền năng của nền kinh tế thị trường, hay về sự cần thiết phải chấp nhận vai trò chế ngự của vốn.

Ông đã nói về tầm quan trọng của các giá trị lớn hơn để lựa chọn cách ứng xử, cũng như tầm quan trọng của các định chế, trong cuốn Tài sản của các quốc gia; nhưng chính trong tác phẩm đầu tiên của ông, cuốn Học thuyết về các tình cảm luân lý, được xuất bản đúng 250 năm trước đây, ông đã điều tra kỹ vai trò chủ đạo của các giá trị phi lợi nhuận.

Trong khi phát biểu rằng “thận trọng”“đức tính có ích nhất đối với cá nhân”, Smith cũng lập luận rằng “nhân đạo, công bằng, hào phóng và tư tưởng cộng đồng là những phẩm chất có ích nhất cho người khác”.

Vậy chủ nghĩa tư bản chính xác là gì? Định nghĩa chuẩn dường như coi các trao đổi kinh tế dựa trên thị trường là một đặc tính cần để một nền kinh tế được xem là mang tính tư bản. Tương tự, sự phụ thuộc vào động cơ lợi nhuận, và các quyền của cá nhân dự trên quyền sở hữu tư nhân, được xem là các đặc trưng tiêu biểu của chủ nghĩa tư bản.

Tuy nhiên, nếu đó là những điều kiện cần thì liệu các hệ thống kinh tế mà hiện nay mà chúng ta đang áp dụng, ở châu Âu và Mỹ chẳng hạn, có thực sự là nền kinh tế tư bản không? Tất cả nền kinh tế thịnh vượng trên thế giới - ở châu Âu hay Mỹ, Canada, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Australia và nhiều nước khác – đã có lúc phụ thuộc vào các trao đổi diễn ra chủ yếu bên ngoài các thị trường, như trợ cấp thất nghiệp, lương hưu và các khoản tiền an sinh xã hội khác, và các nguồn dự phòng công cộng cho giáo dục và y tế.

Thành quả đáng ca ngợi của các hệ thống được cho là tư bản, trong quãng thời gian đạt thành quả thực sự, dựa trên sự kết hợp các định chế hơn là chỉ dựa và một nền kinh tế thị trường nhằm kiếm lời nhiều nhất.

Động cơ của CNTB và yếu tố niềm tin

Chúng ta thường không nhận thấy rằng Smith đã không coi cơ chế thị trường thuần túy như một “diễn viên xuất sắc” biểu diễn một mình, hay việc ông không coi động cơ lợi nhuận là tất cả những gì cần thiết.

Có thể sai lầm lớn nhất là ở chỗ chúng ta coi cuộc tranh luận có giới hạn của Smith về việc tại sao mọi người tìm cách trao đổi là một phân tích thấu đáo về tất cả các chuẩn mực hành vi và các định chế mà ông cho là cần thiết để một nền kinh tế thị trường hoạt động tốt.

Người ta mua bán vì tư lợi – không gì cần hơn thế, như Smith đã phân tích trong một một bài viết của ông sau này được trích dẫn lại nhiều lần. Ông giải thích tại sao những người bán bánh, nấu rượu, bán thịt và người tiêu dùng lại tìm cách trao đổi mua bán với nhau. Tuy nhiên, một nền kinh tế cần các giá trị và cam kết khác như sự tin tưởng lẫn nhau và niềm tin là làm việc hiệu quả.

Ví dụ, Smith lập luận: "Khi người dân ở một quốc gia nào đó tin vào vận may, tính trung thực và sự cẩn trọng của một chủ ngân hàng nào đó, tin rằng ông ta luôn sẵn sàng trả theo yêu cầu trong giấy nợ của mình bất cứ lúc nào trình lệnh phiếu cho ông ta; thì những giấy ghi nợ này sẽ có giá trị lưu thông như vàng và tiền, vì tin rằng loại tiền này có thể có ích cho họ vào bất cứ lúc nào”.

Smith giải thích tại sao kiểu niềm tin này không phải lúc nào cũng tồn tại. Ngay cả những người đọc nhiều nhất về logic người bán bánh-làm rượu-bán thịt của Smith, ghi trong nhiều cuốn sách về kinh tế, cũng có thể lúng túng trong cách hiểu về cuộc khủng hoảng hiện nay (mọi người vẫn có lý do rất chính đáng để tìm đến trao đổi nhiều hơn, chỉ có điều không có cơ hội), nhưng Smith có thể đã hiểu rõ các hậu quả lan rộng của sự thiếu lòng tin và mất tín nhiệm đối với người khác, từng gây ra cuộc khủng hoảng này và làm cho khả năng phục hồi càng khó khăn hơn.

Khi niềm tin sụp đổ, cách nhìn mới xuất hiện

Con đường mới sẽ xuất hiện khi niềm tin cũ bị sụp đổ (Ảnh: FT.com)


Trên thực tế, có nhiều lý do rất chính đáng dẫn tới sự bất tín và sụp đổ niềm tin – nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay. Các nghĩa vụ và trách nhiệm gắn với các trao đổi trong những năm gần đây đã trở nên khó phát hiện hơn vì sự phát triển chóng mặt của các thị trường thứ cấp liên quan đến các sản phẩm phát sinh và các công cụ tài chính khác.

Hiện tượng này xuất hiện vào thời điểm mà tín dụng dồi dào, một phần xuất phát từ sự thặng dư thương mại lớn của một số nền kinh tế, nổi bật nhất là Trung Quốc, đã thổi phồng các giao dịch xấu. Một người cho vay thế chấp dưới chuẩn lừa người đi vay nhận các rủi ro vì không thận trọng có thể chuyển nhượng các công cụ tài chính sang những người khác không liên quan đến giao dịch ban đầu.

Nhu cầu giám sát và điều chỉnh đã trở nên mạnh mẽ hơn trong những năm gần đây. Trong khi đó, vai trò giám sát của chính phủ ở Mỹ nói riêng lại giảm mạnh vì niềm tin ngày càng tăng vào bản chất tự điều tiết của nền kinh tế thị trường. Nói chính xác là khi vai trò giám sát của nhà nước càng cần thiết thì khả năng tiến hành giám sát cần thiết lại càng giảm.

Sự thiếu điều tiết của thể chế không chỉ dẫn tới các thủ đoạn bất lương, mà cả xu hướng siêu đầu cơ, mà theo Smith, đang lôi kéo những người ham kiếm lời. Smith gọi những người chạy theo lợi nhuận bất chấp rủi ro là “những kẻ hoang phí và đầu cơ” – đây cũng là cách mô tả khá chính xác về những người cho vay thế chấp dưới chuẩn thời gian qua.

Niềm tin âm thầm rằng nền kinh tế thị trường hoàn toàn có thể tự điều tiết - nguyên nhân chính dẫn tới việc hủy các quy định đã được thiết lập tại Mỹ - thường hay lờ đi hoạt động của những kẻ hoang phí và đầu cơ, điều này khiến cả người tiên phong trình bày về nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trường cũng phải ngạc nhiên.

Dù tất cả những lập luận của Smith là nhằm giải thích và bảo vệ vai trò mang tính xây dựng của thị trường, nhưng ông cũng thực sự lo ngại tình trạng nghèo đói, mù chữ và bị tước đoạt, có thể vẫn tồn tại bất chấp một nền kinh tế thị trường vận hành tốt. Ông muốn đa dạng hóa thể chế và động cơ, chứ không phải là các thị trường đơn nhất và sự chế ngự duy nhất của động cơ lợi nhuận.

Smith không chỉ biện hộ cho vai trò của nhà nước, có thể can thiệp vào những cái mà các thị trường không thể làm được, như phổ cập giáo dục và giảm nghèo (ông cũng muốn người nghèo, người sống bằng trợ giúp của nhà nước có nhiều tự do hơn ngoài những biện pháp mà Luật về người nghèo trong thời ông đưa ra); mà ông còn biện hộ cho những lựa chọn thể chế có thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh hơn là các thể chế bám chặt vào một vài hình mẫu cố định nào đó, như để mặc mọi thứ cho thị trường.

Tôi cho rằng những khó khăn kinh tế hiện nay không đòi hỏi “chủ nghĩa tư bản mới” nào đó, mà cần một cách hiểu mở về các ý tưởng cũ liên quan đến quy mô và các giới hạn của nền kinh tế thị trường. Điều cần trên hết là một nhận thức tỉnh táo về việc các định chế khác nhau vận hành như thế nào, và bằng cách nào các tổ chức khác nhau – từ thị trường đến các thể chế nhà nước – có thể cùng nhau góp phần tạo ra một thế giới kinh tế tốt hơn.

Hạnh Nhân (dịch từ FT.com)
bantinsom.com ( theo tuanvietnam )