Thứ tư, 24/06/2009, 21:07 GMT+7
Cốt lõi khủng hoảng tài chính : các vấn đề nảy sinh trong hệ thống ngân hàng Mỹ.
Mấy ngày trước đây, lại có thêm 3 ngân hàng Mỹ phá sản và gia nhập vào danh sách 20 ngân hàng phải đóng cửa tính từ đầu năm 2009. Như vậy, có thể gọi năm kỷ sửu là năm hạn đối với nền kinh tế tài chính Mỹ nói riêng, bởi chỉ trong quí đầu tiên đã có 20 trong tổng số 45 ngân hàng ra đi kể từ khi cuộc Đại khủng hoảng hiện tại đã đang diễn ra, mặc dù có nhiều động thái tích cực của tân chính phủ Obama nhằm vực dậy tình hình này...

Các ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính, bởi vì họ ở vào vị thế thuận lợi để tham gia vào các hoạt động tạo ra các thông tin thúc đẩy đầu tư vào sản xuất trong nền kinh tế. Tình hình bảng tổng kết tài sản của ngân hàng có ảnh hưởng quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Nếu các ngân hàng phải chịu sự xói mòn bảng tổng kết tài sản mình và vì vậy có sự thu hẹp đáng kể trong khối lượng vốn, họ sẽ có ít nguồn lực hơn để cho vay và quy mô cho vay của ngân hàng giảm. Sau đó, sự thu hẹp cho vay này đến lượt nó lại gây ra sự suy giảm trong chi tiêu cho đầu tư và hoạt động kinh tế.

Nếu sự xói mòn bảng tổng kết tài sản của ngân hàng nghiêm trọng đến mức nhất định, ngân hàng sẽ bắt đầu sụp đổ và nỗi sợ hãi có thể lan tràn từ một ngân hàng sang các cực ngân hàng khác, làm cho ngay cả những ngân hàng lành mạnh cũng bị suy sụp. Sự suy sụp đổ của hàng loạt ngân hàng phát sinh từ đó được mọi người gọi là tình trạng hoảng loạn ngân hàng. Nguồn gốc gây ra tình trạng lan truyền như bệnh dịch này vẫn là vấn đề thông tin không cân xứng.

Trong tình trạng hoảng loạn, do lo sợ cho sự an toàn của số tiền đã gửi (khi không có bảo hiểm tiền gửi) và không biết chất lượng danh mục cho vay của ngân hàng, người gửi tiền đổ xô đến rút tiền ra cho đến khi ngân hàng sụp đổ. Sự sụp đổ của một số lớn ngân hàng trong khoảng thời gian ngắn hàm ý có tình trạng không tạo ra được thông tin trên thị trường tài chính và vai trò trung gian tài chính của khu vực ngân hàng cũng không còn.

due-diligence.jpgSự suy giảm mức cho vay của ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tài chính cũng làm giảm mức cung về vốn vay cho người đi vay, dẫn tới lãi suất cao hơn. Kết cục của tình trạng hoảng loạn ngân hàng là sự gia tăng vấn đề lựa chọn tiêu cực và trong mức cho vay để tạo thuận lợi cho đầu tư vào sản xuất và quy mô của sự thu hẹp trong hoạt động kinh tế cũng nghiêm trọng hơn.

Nói đến cuộc khủng hoảng tài chính thì ở Mỹ là một điển hình, hầu hết các cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đến bắt đầu bằng sự xói mòn bảng tổng kết tài sản của ngân hàng, sự gia tăng mạnh mẽ của lãi suất (thường bắt đầu bằng sự gia tăng lãi suất ở nước ngoài), sự xuống dốc mạnh mẽ của thị trường cổ phiếu và sự gia tăng trong tính bất định phát sinh từ sự sụp đổ của các doanh nghiệp tài chính hoặc phi tài chính, làm tăng tính chất nghiêm trọng của vấn đề lựa chọn tiêu cực trên thị trường tín dụng.

Ba yếu tố đầu làm giảm dòng tiền mặt của doanh nghiệp và cũng làm tăng vấn đề suy giảm đạo đức. Sự gia tăng trong vấn đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức sau đó lại làm cho việc cho vay trở nên ít hấp dẫn hơn. Vì lý do này, đầu tư và hoạt động kinh tế tổng hợp giảm. Do điều kiện của các doanh nghiệp ngày càng suy yếu và tính bất định về sự lành mạnh của ngân hàng (mọi người nghĩ có lẽ ngân hàng sẽ sụp đổ), người gửi tiền bắt đầu đổ xô đến rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng và điều này đã dẫn tới tình trạng hoảng loạn ngân hàng. Sự giảm sút của số lượng ngân hàng đã làm cho lãi suất tăng thêm nữa, qua đó thu hẹp chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng. Tình trạng ngày càng xấu đi của những vấn đề so sự lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức tạo ra đã dẫn tới sự thu hẹp hơn nữa trong hoạt động kinh tế.

Cuối cùng, có sự phân tách giữa các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (có giá trị ròng âm và bởi vậy bị phá sản) và các doanh nghiệp lành mạnh thông qua các thủ tục phá sản. Quá trình tương tự cũng xảy ra đối với ngành ngân hàng, thường nhờ sự trợ giúp của công chúng và các nhà chức trách tư nhân. Khi sự phân tách hoàn thành, tính bất định trên thị trường tài chính giảm, thị trường chứng khoán phục hồi và lãi suất giảm. Kết quả tổng hợp là vấn đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức bị loại trừ, cuộc khủng hoảng tài chính biến mất.

Khi thị trường tài chính hoạt động tốt trở lại, giai đoạn phục hồi của nền kinh tế cũng bắt đầu. Song nếu sự đình trệ kinh tế dẫn tới sự giảm mạnh của giá cả, thì quá trình phục hồi tạm thời bị dừng lại. Như được chỉ ra trong hình vẽ, trong hoàn cảnh này cái được gọi là sự giảm phát nợ đã xảy ra: Khi mức giá bắt đầu giảm mạnh, giá trị ròng của doanh nghiệp bị xói mòn do sự gia tăng của gánh nặng nợ nần. Khi hiện tượng giảm phát nợ bắt đầu, vần đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức lại tăng lên, cho nên việc cho vay chi tiêu cho đầu tư và hoạt động kinh tế tổng hợp tiếp tục bị kiềm chế trong một thời gian dài.

 Cuộc đại suy thoái đầu tiên.  


 

Các quan chức của Quỹ Dự trữ liên bang đã coi sự bùng nổ của thị trường cổ phiếu vào năm 1928 và 1929 với giá cổ phiếu tăng gấp đôi là sự đầu cơ quá đáng. Để kiểm soát tình hình, họ theo đuổi chính sách tiền tệ chặt để làm tăng lãi suất. Fed gặt hái được nhiều hơn mong đợi, khi thị trường cổ phiếu sụp đổ vào tháng 10 năm 1929. Mặc dù sự sụp đổ năm 1929 tác động mạnh tới thế giới quan và nhân sinh quan của cả một thế hệ, song hầu hết mọi người đều quên rằng vào giữa năm 1930, hơn một nửa mức suy giảm của thị trường cổ phiếu đã bị đảo ngược.

Nhưng yếu tố nào đã chuyển một cuộc suy thoái bình thường thành một cái gì đó hoàn toàn khác, với các cú sốc bất lợi đối với khu vực công nghiệp, sự tiếp tục suy giảm của thị trường cổ phiếu vào nửa sau của năm 1930 và một loạt vụ phá sản tháng 10 năm 1930 đến tháng 3 năm 1933, trong đó một phần ba ngân hàng ở Mĩ phải đóng cửa? Sự tiếp tục suy giảm của giá cổ phiếu vào nửa sau của năm 1930 (vào giữa năm 1932, cổ phiếu đã giảm 10% giá trị nếu so với mức đỉnh vào năm 1929) và sự gia tăng tính bất định do điều kiện kinh doanh không chắc chắn phát sinh từ sự thu hẹp kinh tế làm cho vấn đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức trở nên xấu đi trên thị trường tín dụng. Việc mất đi một phần ba số ngân hàng làm giảm quy mô hoạt động trung gian tài chính. Điều này làm cho các vấn đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức trở nên nghiêm trọng hơn nữa, qua đó làm suy giảm khả năng của thị trường tài chính trong việc tạo ra các kênh dẫn vốn tới những doanh nghiệp có cơ hội đầu tư vào sản xuất.

Quy mô cho vay thương mại giảm một nửa từ năm 1929 tới năm 1933, và chi tiêu cho đầu tư sụp đổ, giảm tới 90% so với năm 1929. Yếu tố cản trở sự phục hồi nhanh chóng của nền kinh tế là mức giá. Trong thời kỳ 1930-1933, mức giá đã giảm 25%. Mức suy giảm khủng khiếp này đã gây ra tình trạng giảm phát nợ, trong đó giá trị ròng giảm do sự gia tăng của gánh nặng nợ mà các doanh nghiệp phải chịu. Sự giảm sút của giá trị ròng, sự gia tăng vấn đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức phát sinh từ đó trên thị trường tín dụng tiếp tục tạo tiền đề cho sự thu hẹp kinh tế kéo dài, trong đó tỷ lệ thất nghiệp tăng lên tới 25% lực lượng lao động. Cuộc khủng hoảng tài chính trong thời kỳ Đại suy thoái là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất ở Mĩ và nó lý giải tại sao giai đoạn thu hẹp kinh tế này cũng là thời kỳ tồi tệ nhất mà đất nước đã trải qua.

Siêu khủng hoảng hiện tại.

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu xảy ra từ tháng 8/2007 khi Công ty thế chấp nhà Mỹ (American Home Mortgage) - tập đoàn cho vay thế chấp mua nhà lớn nhất Hoà Kỳ nộp đơn xin phá sản. Liên tục trong các quý I, II năm 2008, các ngân hàng và các tập đoàn đầu tư bất động sản lớn ở Mỹ như Ngân hàng đầu tư Bear Steams (tháng 3/2008), các tập đoàn bảo lãnh tín nhà đất Fannie Mae và Freddie Mac (7/2008)... đã suy sụp. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính này thực sự bùng nổ vào giữa tháng 9/2008, khi hàng loạt tập đoàn lớn như Merrill Lynch, Tập đoàn bảo hiểm American International Group (AIG) và ngân hàng lớn thứ 4 của Mỹ, Lehman Brothers, tuyên bố phá sản.

Nước Mỹ chao đảo và thế giới sửng sốt trước sự suy sụp của hàng loạt tên tuổi lớn trong hệ thống tài chính Mỹ và không ít người đã ví cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay với cuộc Đại khủng hoảng 1929 - 1933, hoặc chí ít đang đặt nước Mỹ và thế giới trước các chấn động lớn vượt ra ngoài các chấn động chu kỳ thông thường. Vậy sự thật của vấn đề nằm ở đâu? moneystress.jpg

Ai cũng hiểu rằng, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ được bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng cho vay mua bất động sản. Theo phương thức cho vay tiền để tiêu dùng hàng dài hạn và lâu bền (trong đó có việc cho vay mua nhà) - một trong các điều kiện tăng trưởng của nền kinh tế Hoa Kỳ suốt từ đầu những năm 80 của nền kinh tế Hoa Kỳ suốt từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước đến nay, người dân Mỹ đã ồ ạt vay mượn để mua nhà, kể cả những người có thu nhập thấp hoặc thu nhập không ổn định.

Rủi ro từ chủ trương này của Chính phủ bắt đầu bộc lộ khi nước Mỹ phát triển tối đa thị trường theo mô hình kinh tế thị trường tự do. Lãi suất cơ bản thấp và tín dụng rẻ, dễ tiếp cận trở thành nhân tố kích thích mạnh đầu tư vào tiêu dùng trong nền kinh tế. Niềm tự hào về 3/4 sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ dựa vào tiêu dùng trong nước lại là nguyên nhân của những tích tụ khổng lồ nợ quá hạn ở các ngân hàng cũng như làm gia tăng tình trạng chứng khoán hoá các khoản nợ của các tín dụng cho vay, ngân hàng và đầu tư mất khả năng kiểm soát tình hình, dự trữ bắt buộc nằm mức dưới chuẩn và năng lực thanh khoản của các ngân hàng bị giảm sút. Do đó, khi "bong bóng" nhà đất bị nổ, sự suy sụp của các ngân hàng và các tập đoàn đầu tư lớn ở Mỹ sẽ tất yếu xảy ra.


Điểm lại nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ để khẳng định một điều rằng, cuộc khủng hoảng này không đơn thuần là một chấn động chu kỳ, tất yếu diễn ra sau gần một thập kỷ nền kinh tế Mỹ liên tục tăng trưởng cao, ở mức bình quân 4 - 5% (ngoại lệ có sự suy giảm của một số lĩnh vực công nghệ cao vào năm 2001), sự biểu hiện của một cuộc khủng hoảng về thể chế tài chính. Cụ thể tự do hoá về tài chính đã đạt tới mức cao nhất ở Hoa Kỳ, các tổ chức tài chính độc lập và vượt hoàn toàn ra ngoài khả năng kiểm soát của Quỹ Dự trữ Liên bang, các ngân hàng say sưa đầu tư vào chứng khoán và trước tiên là chứng khoán trong lĩnh vực bất động sản, các ngân hàng tranh đua mở rộng dịch vụ bảo hiểm cho vay đầu tư bất động sản, các ngân hàng thương mại gia tăng năng lực "ảo" khi các tổ chức tài chính cho vay thế chấp dưới chuẩn...

Điều đó cũng có nghĩa là, thể chế tài chính ở Mỹ đã lạc hậu tương đối so với yêu cầu giám sát các dịch vụ mới đầy mạo hiểm mà nền kinh tế Mỹ đang tạo ra. Thiếu công cụ giám sát, thiếu dự báo và các biện pháp phòng ngừa..., các hoạt động đầu tư loại này của Mỹ đã mặc nhiên được kích đẩy, trong khi chúng không gặp bất kỳ trở ngại hay cảnh báo nào từ phía điều hành của Chính phủ.

Cuối cùng, có thể người ta còn đưa ra những nhận định khác nhau, thêm các góc nhìn đa dạng nữa về lý do cũng như tính chất của hai cuộc khủng hoảng này nhưng thực tế hiển hiện là chúng ta đang phải trải nghiệm từng ngày sự tác động suy thoái đổ vỡ các hệ thống tài chính toàn cầu, nhất là thời buổi mà mỗi người hiện nay đều dễ dàng tiếp cận thông tin và bị chi phối bởi sức mạnh truyền thông diễn ra từng ngày, chắc hẳn mỗi chúng ta hẳn đã đang cảm nhận và thấm thía được một điều gì đó xung quanh cuộc sống hiện thực của bản thân mình.

bantinsom.com ( theo saga )