"Việc xem xét và mô hình hoá tác động của các nhân tố phi kinh tế nói chung, và yếu tố thể chế nói riêng, sẽ trở thành một hướng đi mới, một bước tiến mới trong con đường tìm tòi và khám phá “các nguồn tăng trưởng kinh tế” trong tương lai phù hợp với Việt Nam"
1. Hiểu biết về nguồn tăng trưởng kinh tế đã được phát triển như thế nào?
Tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, quyết
định phúc lợi kinh tế của mỗi quốc gia và việc tìm hiểu yếu tố nào tạo
nên tăng trưởng từ lâu đã trở thành một trong những câu hỏi trung tâm
của kinh tế học. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế truyền thống (Smith,
Ricardo,…) đã đề cao vai trò của vốn, coi đó là yếu tố quan trọng quyết
định sự tăng trưởng.
Tuy nhiên, phải đến mô hình Harrod-Domar
của trường phái Keynes thì mối quan hệ tiết kiệm, tích lũy vốn và tăng
trưởng kinh tế mới được lượng hoá và mặc dù mô hình này còn quá đơn
giản, nhưng nó đã trở thành cơ sở của chiến lược tích lũy vốn nhằm thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước sau chiến tranh thế giới thứ thứ
hai.
Thất bại của chiến lược tăng trưởng chỉ dựa vào huy
động tiết kiệm cao theo khuyến nghị của chính phủ đã phủ một bóng mây
nghi ngờ lên quan điểm truyền thống cho rằng tích luỹ vốn là chìa khoá
của tăng trưởng kinh tế. Đến đây, lý thuyết tăng trưởng đã phát triển
lên một bước mới, với việc phân tách tăng trưởng về mặt sản lượng
thành: tăng trưởng thông qua tăng các đầu vào (lao động, vốn) và tăng
trưởng thông qua tăng năng suất (chẳng hạn, công nghệ mới).
Trong
dài hạn, một nền kinh tế cần tiến bộ công nghệ để có thể nâng cao mức
sống người dân, bởi nền kinh tế đó không thể tăng mãi đầu vào lao động,
đồng thời cũng gặp phải lợi tức cận biên giảm dần nếu tiếp tục tăng
thêm vốn vào quá trình sản xuất.
Mô hình tăng trưởng tân cổ
điển (thường gọi là mô hình tăng trưởng Solow) được coi là mô hình
chuẩn đầu tiên, hội tụ được khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trưởng
kinh tế dài hạn.
Thế nhưng, mô hình tăng trưởng tân cổ điển
vừa là một thành công lớn, lại vừa là một thất bại lớn. Một hạn chế lớn
nhất của mô hình tăng trưởng tân cổ điển là trong dài hạn, nguồn tác
động đến tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người duy nhất trong
mô hình này là tốc độ tăng hiệu quả lao động lại được xác định một cách
ngoại sinh.
Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển
đã thúc đẩy nhiều hướng nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với
thực tế của các nước đang phát triển và đã đưa đến sự ra đời của các mô
hình tăng trưởng nội sinh.
Gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh
là bởi các mô hình tăng trưởng mới này cố gắng nội hoá sự tăng trưởng,
nghĩa là giải thích tăng trưởng bên trong một mô hình của nền kinh tế.
Trong
mô hình tăng trưởng nội sinh, tăng năng suất có được từ tích luỹ vốn
con người hay các hoạt động phát minh sáng chế là yếu tố tạo nên tăng
trưởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu người. Do đó, tăng năng suất
- “làm việc thông minh hơn” chứ không phải là “làm việc chăm chỉ hơn” -
là yếu tố thiết yếu của tăng trưởng kinh tế nói chung.
2. Nguồn tăng trưởng kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển
Những nghiên cứu thực nghệm về nguồn tăng trưởng
kinh tế từ đầu thế kỷ XIX ở các nền kinh tế phương Tây và Nhật Bản cho
thấy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn đầu của Cách mạng Công nghiệp
chủ yếu dựa trên tích luỹ vốn hơn là tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên sau
đó cả Mỹ và Nhật Bản đều đã dịch chuyển được từ tăng trưởng dựa trên
tích luỹ vốn sang tăng trưởng dựa trên tăng năng suất.
Cần lưu
ý là sự thay đổi mô hình tăng trưởng này không xảy ra ở tất cả các nền
kinh tế. Thực tế tăng trưởng của Liên Xô (cũ) là sự tương phản hoàn
toàn với Mỹ và Nhật. Có thể coi kế hoạch hoá kinh tế của Liên bang Xô
viết là trường hợp điển hình của việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
thông qua tối đa hoá tích luỹ vốn theo định hướng của chính phủ.
Tốc
độ tăng tỷ lệ vốn-lao động ở Liên Xô cao hơn nhiều so với các nền kinh
tế thị trường, tốc độ tăng năng suất lao động nhỏ hơn nhiều so với tốc
độ tăng tỷ lệ vốn-lao động, đồng nghĩa với sự gia tăng rất lớn của tỷ
lệ vốn-sản lượng.
Mô hình tăng trưởng kinh tế của Liên Xô cho
đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX vẫn chỉ tương đương với mô hình tăng
trưởng kinh tế của Mỹ và Nhật trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá.
Rõ
ràng là nền kinh tế này đã không thể dịch chuyển từ tăng trưởng dựa
trên tích luỹ vốn sang tiến bộ công nghệ, và dường như đã bị “mắc kẹt”
bởi quy luật sản phẩm cận biên của vốn giảm dần.
3. Liệu có sự thần kì trong tăng trưởng của các nước Đông Á?
 |
|
Liệu có sự thần kì trong tăng trưởng của các nước Đông Á? (Ảnh: valori.it)
|
Chỉ
trong giai đoạn 1980-95, thu nhập bình quân đầu người của Indonesia,
Malaysia, Singapore và Thái Lan đã tăng hơn gấp đôi, so với sự gia tăng
20% ở Mỹ. Ở cả bốn nước này, dường như đầu tư vào vốn vật chất đóng một
vai trò quan trọng. Tuy nhiên, câu hỏi liệu đầu tư vào vốn vật chất có
giải thích được tốc độ tăng trưởng cao ở Đông Á hay không vẫn còn là
vấn đề gây tranh cãi.
Trong một nghiên cứu nổi tiếng vào năm
1995, dựa trên phương pháp luận hạch toán tăng trưởng, Young đã lập
luận rằng tốc độ tăng trưởng cao của Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và
Đài Loan có được là nhờ gia tăng đầu tư, tăng tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động và tăng chất lượng lao động (được phản ánh ở sự gia tăng tỷ lệ
lao động có trình độ), chứ không nhờ tiến bộ công nghệ. Vì vậy, theo
quan điểm của Young, không có gì thần kỳ trong sự tăng trưởng ở Đông Á.
Tuy nhiên, phân tích của Sarel tập trung vào năm nước Đông Á:
Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (trong tương
quan so sánh với Mỹ) trong thời kỳ 1978-1996, không dựa trên tỷ phần
thu nhập (của Young), mà theo một phương pháp nhằm lượng hoá được chênh
lệch về cấu trúc sản xuất và trình độ phát triển giữa các nước lại cho
thấy tăng trưởng các nhân tố không phải là vốn và lao động lại giải
thích phần lớn tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người trong
cả giai đoạn.
Do vậy, kết luận của các nghiên cứu tính toán
tăng trưởng này cho thấy: không có sự đồng thuận về tầm quan trọng
tương đối của tăng trưởng năng suất với tăng trưởng các đầu vào nhân tố
ở Đông Á từ đầu thập kỷ 60 đến giữa những năm 1990.
4. Cơ hội nhìn lại các nguồn tăng trưởng của kinh tế Việt Nam
 |
|
Từ "Đổi mới", Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về tăng trưởng GDP và nâng cao mức sống bình quân (Ảnh: Vietbao.vn)
|
Kể
từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng
kể về tăng trưởng GDP và nâng cao mức sống bình quân. Tuy nhiên, gần
đây đã xuất hiện một số hiện tượng đáng lo ngại, ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế bền vững của nước ta, như chỉ số ICOR cao, chỉ số cạnh
tranh giảm sút, chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp…
Khủng
hoảng kinh tế có tác dụng hai mặt: một mặt làm lộ rõ tất cả những yếu
kém, khuyết tật và bất hợp lí của cơ cấu kinh tế hiện tại, nhưng mặt
khác lại tạo cơ hội để tái cấu trúc lại nền kinh tế phù hợp hơn.
Vì
vậy, hơn bao giờ hết, việc xác định các nguồn tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam là hết sức cần thiết, nhằm tìm hiểu động lực dẫn đến tăng
trưởng ở Việt Nam trong thời gian qua và tìm ra chiến lược tăng trưởng
kinh tế trong những năm sắp tới.
Các số liệu phân tích về nguồn tăng trưởng (theo
phương pháp hạch toán tăng trưởng) cho thấy từ năm 1996 đến nay, vốn có
đóng góp ngày càng lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế nước ta, trong
khi đóng góp cho tăng trưởng của yếu tố “tổng năng suất” có xu hướng
giảm sút.
Một câu hỏi lớn là liệu nền kinh tế Việt Nam có thể
tiến ngay vào quá trình tăng trưởng kinh tế không chủ yếu phụ thuộc vào
tích luỹ vốn hay không? Hoặc liệu chúng ta có thể kết hợp được phát
triển dưới dạng “lai” các mô hình dựa vào vốn và tăng năng suất để sớm
thoát ra khỏi “bẫy” tăng trưởng dựa vào vốn hay không?
Dù mô hình dựa trên các nguồn tăng trưởng của chúng
ta được xác định cụ thể như thế nào, cũng cần thấy rõ một kết luận rất
cơ bản của các nhà kinh tế là sự đóng góp của tổng năng suất nhân tố
đối với tăng trưởng thu nhập thực tế quan trọng hơn nhiều so với đóng
góp của các yếu tố đầu vào.
Nếu như lực lượng chính của tăng
trưởng kinh tế không phải là sự tích luỹ vốn hữu hình (như quan điểm
truyền thống) mà là tiến bộ công nghệ (được hiểu theo nghĩa rộng là
tổng năng suất), thì cho dù các nước nghèo có khả năng tiết kiệm thấp
vẫn có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nếu có thể nhập khẩu
công nghệ từ các nền kinh tế tiên tiến.
Khi đó, việc đầu tư
vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển (hỗ trợ hoạt động cải tiến ở các
doanh nghiệp tư nhân, bao gồm cả nhập khẩu công nghệ nước ngoài) sẽ
mang lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao hơn là việc chỉ cố gắng gia
tăng lượng vốn hữu hình.
Các mô hình tăng trưởng nội sinh, đặc biệt là các mô
hình xét đến vốn con người đã góp phần giải thích đáng kể sự chênh lệch
về thu nhập giữa các quốc gia.
Các mô hình này cho thấy không
có xu hướng các nước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về
mức thu nhập bình quân, cho dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm.
Nguyên
nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ ở lượng vốn vật chất (có thể
bù đắp nhờ đầu tư và viện trợ nước ngoài) mà quan trọng hơn là ở vốn
con người.
Bởi thế, ý nghĩa to lớn của các mô hình tăng trưởng
nội sinh là: tốc độ tăng trưởng dài hạn có thể phụ thuộc vào hành động
chính sách của chính phủ (đánh thuế, cung ứng cơ sở hạ tầng, bảo hộ sở
hữu trí tuệ, cung cấp các dịch vụ công liên quan đến giáo dục, y tế…),
vì các chính sách này có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát
minh và tích lũy vốn con người.
Câu hỏi cuối cùng là phải chăng các mô hình tăng
trưởng nội sinh là những mô hình tốt nhất cho nền kinh tế của ta? Câu
trả lời là không, bởi vì các mô hình này vẫn phụ thuộc vào một số giả
định truyền thống mà dường như không phù hợp với các nền kinh tế đang
phát triển.
Chẳng hạn, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ
qua những yếu tố như sự yếu kém về cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế ở
các nước đang phát triển, mà đây cũng là những yếu tố kìm hãm tăng
trưởng, giống như mức tiết kiệm và tích luỹ vốn con người thấp.
Từ
lâu người ta đã nhận ra rằng các nhân tố phi kinh tế có mối tương tác
với quá trình tăng trưởng. Tuy nhiên, trong các mô hình tân cổ điển và
tăng trưởng nội sinh, lịch sử và thể chế không có vai trò gì.
Các
kỹ thuật tính toán tăng trưởng đo tầm quan trọng tương đối của mức vốn,
lao động và công nghệ trong quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ thực hiện
trong khuôn khổ một hàm sản xuất kinh tế vĩ mô.
Thế nhưng các
nhà kinh tế thể chế hiện đại lập luận rằng thể chế là cấu trúc mang
tính thúc đẩy của một xã hội, do đó các luật lệ, quy tắc…tạo nên nền
tảng thể chế của một xã hội sẽ chi phối sự phân bổ các nguồn lực của xã
hội và nền kinh tế, và do vậy có ảnh hưởng lớn đến năng suất.
Dường
như, việc xem xét và mô hình hoá tác động của các nhân tố phi kinh tế
nói chung, và yếu tố thể chế nói riêng, sẽ trở thành một hướng đi mới,
một bước tiến mới trong con đường tìm tòi và khám phá “các nguồn tăng
trưởng kinh tế” trong tương lai phù hợp với Việt Nam.
- PGS.TS Trần Thọ Đạt (Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân)