Sử dụng hợp đồng quyền chọn để ngăn ngừa biến động giá ngoại tệ và kinh doanh chênh lệch giá ngoại tệ.
1. Hợp đồng quyền chọn (Option): Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người nắm giữ nó được phép mua (quyền chọn mua – call option), hoặc bán (quyền chọn bán – put option) một khối lượng hàng hoá nhất định với giá nhất định và trong một khoảng thời gian xác định (quyền chọn kiểu Mỹ) hoặc điểm thời gian xác định (quyền chọn kiểu Châu Âu).
|
Một điều quan trọng là người nắm giữ quyền chọn có thể thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng. Vì vậy khi rủi ro xảy ra, thị trường không theo đúng hướng dự đoán của người nắm giữ quyền chọn thì lỗ lãi được tối thiểu hoá chỉ ở mức giá của hợp đồng quyền chọn.
Hàng hoá ở đây có thể là thương phẩm, cổ phiếu, trái phiếu, vàng, ngoại tệ…
Những yếu tố cấu thành quyền chọn:
* Tên hàng hoá cơ sở và khối lượng mua theo quyền.
* Loại quyền (chọn mua hay chọn bán).
* Thời gian đáo hạn của quyền.
* Mức giá thực hiện của quyền.
Những mức giá liên quan đến Hợp đồng quyền chọn:
* Giá thị trường hiện hành: là giá hiện tại của loại hàng hoá cơ sở. Giá này dùng để định giá Quyền chọn.
* Giá Quyền chọn: là giá nhà đầu tư phải bỏ ra để được sở hữu quyền chọn.
* Giá thực hiện: là mức giá xác định thực hiện của Hợp đồng quyền chọn.
* Giá thị trường: là giá của hàng hoá cơ sở trên thị trường khi đến thời gian đáo hạn.
2. Phân tích lợi nhuận khi nắm giữ quyền chọn:
Hiện tại, trên thị trường tài chính Việt Nam chỉ có các NH được phát hành quyền chọn, ở góc độ doanh nghiệp ta chỉ phân tích lợi nhuận khi mua quyền chọn mua (long call – option) và mua quyền chọn bán (long put – option).
2.1. Mua quyền chọn mua:
Đồ thị biểu diễn lợi nhuận:
P: Giá quyền chọn
D1: Giá thực hiện
D2: Giá thị trường
Vậy theo giá thị trường, lợi nhuận của một quyền chọn được đánh giá như sau:
| Giá thị trường |
Lợi nhuận |
| D2 =< D1 |
LN = -P |
| D2 = D1 + P |
LN = 0 |
| D1 < D2 < D1 + P |
P < LN < 0 |
| D2 > D1 + P |
LN > 0 |
Ví
dụ cụ thể: Trên thị trường, 1 Quyền chọn mua với thời gian đáo hạn là
tháng 01/01/2008, giá thực hiện 16.000 đồng/1 USD với khối lượng giao
dịch là 10.000 USD, có giá là 500.000 đồng. Một nhà đầu tư quyết định
mua 10 quyền chọn. Hãy xem giá thị trường vào ngày 01/01/2008 và lợi
nhuận của nhà đầu tư đó như thế nào.
Nếu vào ngày 01/01/2008, giá của USD là : 16.200 đồng/1 USD
Nhà
đầu tư sẽ thực hiện quyền chọn mua với tổng chi phí gồm chi phí mua
quyền chọn và chi phí mua 100.000 USD: 1,605,000,000 đồng. Sau đó dùng
lượng tiền USD mua được theo HĐ Quyền chọn bán theo giá thị trường thu
được: 1,620,000,000 triệu đồng.
Như vậy lợi nhuận thu được là 15 triệu đồng.
Mức
lỗ cao nhất nhà đầu tư đó phải chịu là 5.000.000, vì nhà đầu tư có thể
thực hiện hoặc không thực hiện Quyền chọn. Mức lợi nhuận thì đồng biến
theo sự tăng giá của đồng USD.
Lợi nhuận của nhà đầu tư tổng quát như sau:
| Giá hiện hành (S) |
Lợi nhuận (P) |
| S =< 16.000 |
P = -5.000.000 |
| S = 16.050 |
P = 0 |
| 16.000 < S <16.050 |
-5.000.000 < P < 0 |
| S > 16.050 |
P > 0 |
Một
trường hợp khác, quyền chọn mua có thể được sử dụng như một công cụ
phòng ngừa rủi ro tăng giá . Ví dụ như: một doanh nghiệp trong vòng 3
tháng tới phải thanh toán một lượng ngoại tệ rất lớn, để phòng ngừa
ngoại tệ lên giá, DN đó có thể bỏ ra một khoản chi phí để mua quyền
chọn mua loại ngoại tệ đó ở giá thực hiện đúng với giá mà DN đó mong
muốn, như vậy, rủi ro tăng giá đối với DN đó đã bị triệt tiêu.
2.2. Mua quyền chọn bán:
Đồ thị biểu diễn lợi nhuận:
P: giá quyền chọn bán
D1: Giá thực hiện
D2: Giá hiện hành
Cũng
giống như Quyền chọn mua, Quyền chọn bán cũng có thể sử dụng cho hai
mục đích: ngăn ngừa rủi ro và kinh doanh chênh lệch giá.
Trường
hợp phòng ngừa rủi ro: Một DN sẽ được thanh toán một lượng ngoại tệ lớn
trong thời gian tới, nhưng có nhận định trong thời gian tới tỷ giá
ngoại tệ sẽ giảm, DN sẽ ngăn ngừa rủi ro bằng cách mua quyền chọn bán
cho lượng ngoại tệ sẽ được thanh toán, và như vậy tỷ giá ngoại tệ sẽ
được DN đó cố định.
Trường hợp kinh doanh chênh lệch giá:
Ví
dụ: Quyền chọn bán 10.000 USD, thời gian đáo hạn 01/01/2008, giá đáo
hạn 16.000 đồng/1 USD có giá là 500.000 đồng. Một nhà đầu tư dự đoán
rằng giá USD sẽ giảm, mua 10 Quyền chọn bán. Chúng ta sẽ xét xem lợi
nhuận của nhà đầu tư đó như thế nào.
Vào ngày 1/1/2008. Giá
USD hiện hành là 15.900. Nhà đầu tư sẽ bỏ tiền mua 100.000 USD và sử
dụng quyền chọn bán để bán 100.000 USD đó với giá thực hiện 160.000.
Vậy Tổng chi phí nhà đầu tư là: 1.559.000.000 đồng, thu được:
1.600.000.000, Chênh lệch thu được: 5.000.000 đồng.
Xem xét một cách tổng thể, giá hiện hành và lợi nhuận của người đó như sau:
| Giá hiện hành (S) |
Lợi nhuận (LN) |
| S >= 16.000 |
LN = -P |
| 15.950 < S < 16.000 |
-P < LN <0 |
| S = 15.950 |
LN = 0 |
| S < 15.950 |
LN > 0 |
3. Kết luận:
Hợp
đồng quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh rất phức tạp đối với
người ở vị thế bán (cụ thể là việc tính giá), nhưng rất tiện lợi và dễ
sử dụng đối với người ở vị thế mua, rất hữu hiệu trong việc ngăn ngừa
rủi ro và kinh doanh chênh lệch giá, chi phí lại rất thấp. Ngoài ra còn
có các chiến lược để giảm xác suất rủi ro, tăng lợi nhuận như chiến
thuật bull spread, bear spread, box spread, butterfly spread, calendar
spread… rất đơn giản bằng cách giữ các vị thế mua, bán khác nhau hoặc
các quyền chọn với giá thực hiện khác nhau. Trong tương lai, kinh doanh
vàng, ngoại tệ, xa hơn là trái phiếu, cổ phiếu đều rất cần đến sự hiểu
biết và sử dụng các loại hợp đồng quyền chọn này.