Thứ bảy, 30/05/2009, 19:47 GMT+7
Chiến lược marketing đối với hoạt động thông tin thư viện ( phần 01)
Hiện nay, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thông tin thư viện đang được đánh giá là những tổ chức hiện đại, đa chức năng với nhiều mục tiêu quan trọng trong việc phát triển bền vững nền kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia.

Viễn cảnh về thế giới thông tin trong tương lai là điều mà chúng ta chưa thể tiên đoán được song một điều hiển nhiên rằng các cán bộ thư viện, cán bộ thông tin, các nhà khoa học thông tin, các nhà môi giới thông tin, các nhà quản trị cơ sở dữ liệu, các nhà quản trị tri thức, các kỹ sư công nghệ,… đang quản lý và điều hành hệ thống thông tin và truyền
thông trên toàn cầu.

    Thập niên 80 – 90 có thể coi là thập niên của thông tin mà sự kiện đáng chú ý là một thị trường thông tin hay một nền công nghiệp thông tin. Hàng loạt các Ngân hàng dữ liệu lưu trữ thông tin với khối lượng lớn và chất lượng cao ra đời, hình thành nhiều tổ chức môi giới và dịch vụ thông tin nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của người dùng tin.  
Trong tiến trình phát triển này việc hiểu và vận dụng tri thức Marketing trong thực tiễn của công tác thông tin thư viện đang là mối quan tâm của những người làm công tác thông tin.    
Trong khuôn khổ của bài này chúng tôi càng chia sẻ với các đồng nghiệp về chiến lược Marketing đối với hoạt động thông tin thư viện.  Marketing    theo  định nghĩa của  Học viện  Marketing Chartered, là quá trình quản lý, xác định, dự đoán và đáp ứng các yêu cầu cho khách hàng một cách hiệu quả và thuận lợi. Chiến lược marketing  được hiểu là một hệ thống các quyết  định hoạt  động mang tính dài hạn mà tổ chức cần thực hiện nhằm đạt tới các mục tiêu đặt ra.
Một chiến lược marketing mang tính khả thi nếu chiến lược  đó phản ánh  được . Những mục tiêu căn bản, những phương hướng hành động cần thực hiện dựa trên cơ sở phân tích và đánh giá đúng các đặc điểm của môi trường, đảm bảo các điều kiện cần thiết và  phải kết hợp những yêu cầu riêng biệt của hoạt động marketing với các yêu cầu của
các bộ phận chức năng khác trong tổ chức.

Sự cần thiết phải xây dựng kế hoạch chiến lược marketing:
-  Đảm bảo cho mỗi bộ phận nhỏ trong cơ cấu tổ chức lớn  đều có mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng, các mục tiêu đó phải thống nhất với mục tiêu chung của tổ chức.
-  Tạo cơ hội cho các bộ phận, có chức năng khác nhau trong tổ chức phối hợp hoạt động.
-  Bắt buộc các bộ phận phải tự đánh giá, nhận thức về những điểm mạnh, điểm yếu của mình.
-  Tạo cơ sở cho tổ chức phân bổ nguồn lực hợp lý xét cả trên phương diện ngắn hạn và dài hạn.

 Định hướng chiến lược marketing
Để lựa chọn hướng chiến lược phù hợp nhất cho một trung tâm thông tin – thư viện, người làm marketing sẽ cần phải cân đối năng lực nội tại với cơ hội. 
Quá trình này đòi hỏi trước tiên phải xây dựng một khung chuẩn để đánh giá các cơ hội khác nhau, phân loại nhóm khách hàng theo mức độ tạo sự hài lòng cho khách hàng và nên sử dụng những nhân tố nào trong việc quản lý chiến lược và thực hiện chiến lược.   Việc xác định, phân tích và đánh giá các tác động ảnh hưởng đến sự thịnh vượng của  trung tâm thông tin- thư viện và các dịch vụ thông tin là tiêu chí đầu tiên của bất kỳ một kế hoạch chiến lược nào. Chúng ta phải xem xét cả hai nhân tố môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.


 **  Nhóm nhân tố môi trường vĩ mô trong tổ chức thông tin - thư viện thường là các thể chế, chính sách của quốc gia, dân số học, kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa, công nghệ và môi trường. Cũng phải chú ý thêm rằng hiện nay có một số các tổ chức, các nhà cung cấp nguồn thông tin đang cạnh tranh với các dịch vụ cung cấp thông tin của các cơ quan
thông tin - thư viện. 
●    Nhân tố chính trị xã hội hay còn gọi là môi trường chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định marketing. Môi trường chính trị bao gồm các thể chế chính sách cảu nhà nước qui định hoạt động thông tin thư viện như PHÁP LỆNH THƯ VIỆN của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 28 tháng 12 năm 2000,  Môi trường chính trị vừa là nhân tố ảnh hưởng vừa là nhân tố điều tiết các hoạt động marketing của cơ quan thông tin thư viện. 
●   Nhân tố dân số là nhân tố đầu tiên tạo lập thị trường. Đây chính là điều các nhà quản lý marketing hết sức lưu tâm bởi vì các xu hướng phát triển và cấu thành của dân số ảnh hưởng lớn tới quy mô cung cấp thông tin và các quyết định marketing chẳng hạn như quy mô tốc độ tăng trưởng của dân số, di chuyển nơi cư trú, những thay đổi trong thu nhập và trình độ học vấn của các tầng lớp dân cư. “Hiện nay ở các nước tiên tiến một số thư viện trường học đang bị ảnh hưởng bởi tác động hạ tỷ lệ sinh, còn thư viện công cộng thì đang phải đối mặt với vấn đề làm thế nào để mở rộng dịch vụ cho các
khách hàng là người lớn tuổi vào thế kỷ 21.”
●     Nhân tố kinh tế xã hội đề cập đến khuynh hướng phát triển của nền kinh tế và nó được thể hiện tập trung ở tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Sự phát triển này có ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và các nhu cầu của con người, điều này cũng gắn chặt với nhân tố dân số. Chẳng hạn như những công ty xây dựng phát triển nhà ở đang có
xu hướng xây dựng khu nhà ở, khu chung cư tập trung ở những vùng ngoại ô nhiều hơn ở những khu trung tâm thành phố, điều này sẽ ảnh hưởng đến thư viện công cộng phải tăng cường thêm các chi nhánh thư viện của mình ở những nơi đông dân cư mới…       
●   Nhân tố văn hóa được coi là nhân tố quan trọng tạo nên nhân cách và lối sống của khách hàng, đồng thời cũng là nhân tố tạo cho cán bộ thông tin thư viện lựa chọn tài liệu về lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và các truyền thống văn hóa, hai vấn đề này có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu, hành vi, ứng xử, ngôn ngữ và ước vọng của cá nhân trong
việc sử dụng thông tin đáp ứng cho các nhu cầu văn hóa của người dùng tin trong thư viện.  
●   Nhân tố công nghệ thông tin và truyền thông tác động mạnh mẽ tới các quyết định marketing của trung tâm thông tin thư viện nhất là về mặt dài hạn. Sự phát triển khoa học – công nghệ được coi là nền tảng của nền kinh tế quốc gia, các cán bộ làm công tác thông tin phải thích ứng với những thành tựu của khoa học công nghệ và áp dụng các thành tựu  đó trong các hoạt  động thông tin thư viện. Các cơ quan thông tấn báo chí, truyền thanh, truyền hình vệ tinh…là các tổ chức đang cạnh tranh với trung tâm thông tin thư viện. Chúng ta có thể thống kê được bao nhiêu thư viện có dịch vụ cung cấp thông tin qua điện thoại ? Trong khi đó có rất nhiều các tổ chức cung cấp thông tin qua hệ thống viễn thông trên thị trường.

  ●   Nhân tố môi trường cũng là một phần trong môi trường vĩ mô mà chúng ta phải xem xét. Ấn tượng về hình ảnh của một thư viện với nhiều cây xanh, có nhiều  không gian thư giãn và các dịch vụ cung cấp thông tin hữu hiệu sẽ nâng cao nhận thức và khả năng sử dụng các dịch vụ của thư viện đối với người dùng tin.

** Nhân tố môi truờng vi mô đó là nhân tố các loại hình cơ quan thông tin thư viện (trung tâm thông tin tư liệu, trung tâm học liệu,  thư viện công cộng, thư viện chuyên ngành, thư viện trường học..), nhân tố các nhà cung cấp nguồn lực tài nguyên thông tin, nhân tố các nhà môi giới, nhân tố khách hàng. Mỗi loại nhân tố đều có những tác động khác nhau đối với việc xây dựng và thực hiện các quyết định marketing. Trong đó nhân tố loại hình trung tâm thông tin - thư viện  là nhân tố quan trọng và có thể kiểm soát được, đồng thời nhân tố khách hàng luôn được coi là nhân tố quan trọng trong các nhân tố quan trọng. Bởi mong muốn, nhu cầu của khách hàng quyết  định lý do tồn tại của trung tâm thông tin - thư viện. Khách hàng là những người đã sử dụng, đang sử dụng và sẽ sử dụng thư viện và các dịch vụ thư viện. Họ có nhiều đặc điểm khác biệt mà trung tâm thông tin - thư viện cần biết; họ khác nhau về sở thích, về nhu cầu, về thói quen, về
giới tính, về tuổi tác, về trình độ giáo dục, về nghề nghiệp và về mục đích tìm kiếm cũng như sử dụng thông tin. Chính vì vậy trung tâm thông tin cần nghiên cứu, đánh giá, phân tích, nắm vững các đặc điểm của nhóm khách hàng và tìm ra những giải pháp để thỏa mãn nhu cầu của họ một cách tốt nhất.  

  **  Đánh giá thực trạng nội lực trung tâm thông tin thư viện. 
      Các nhà quản lý marketing thường vận dụng phương pháp phân tích SWOT để đánh giá nội lực của tổ chức. SWOT là phương pháp xác định hay đánh giá môi trường mà một tổ chức hoạt động trong đó. Không một tổ chức nào hoạt động tách rời môi trường nhưng lại ảnh hưởng quá nhiều bởi các sự kiện trong và ngoài tầm kiểm soát của tổ chức. Vì vậy bất cứ kế hoạch trong tương lai nào cũng cần tính đến những đặc điểm nội lực nhằm cố gắng dự đoán sự ảnh hưởng của chúng, tận dụng hoặc khai thác các mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực. Khả năng thực tế của trung tâm thông tin - thư viện phản ảnh qua bốn yếu tố cấu thành quan trọng là điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. 
●   Điểm mạnh chính là là các nguồn lực bên trong tổ chức nắm giữ và phát huy cho phép nó cung cấp một dịch vụ chất lượng cao, đối với cán bộ quản lý nhiệm vụ đầu tiên là phải phát hiện ra điểm mạnh tồn tại trong tổ chức, sau đó họ phải bảo đảm bất cứ chiến lược nào đều phải tính đến điểm mạnh để giảm đến mức tối thiểu những rủi ro. Đối với cơ quan thư viện, có thể bộ sưu tập phong phú, tính chuyên nghiệp của nhân viên, nhiều dịch vụ cung cấp thông tin, vị trí  địa lý thuân lợi …được hy vọng là các  điểm mạnh. 

  ●   Điểm yếu luôn hiện diện trong tất cả các tổ chức và hay thay đổi hơn so với điểm mạnh. Các nhà quản lý có thể khó nhận ra điểm yếu do sự thân mật của họ và cam kết theo đuổi các mục tiêu của tổ chức. Trong cơ quan thông tin – thư viện điểm yếu có thể là sự không thông nhất về các chuấn tác nghiệp, có nhiều cơ sở dữ liệu nhưng lại không đủ thiết bị viễn thông để liên lạc với khách hàng,  thiếu nhân viên có kinh nghiệm, kỹ năng tác nghiệp và được đào tạo, các chính sách sưu tập không thích hợp có thể dẫn đến bộ sưu tập nghèo nàn….  Tuy nhiên một số điểm yếu có thể khắc phục được.

  ●   Cơ hội là những sự kiện hay nhân tố tồn tại trong môi trường bên ngoài và có thể đem lại tiềm năng thực sự để cơ quan thông tin – thư viện khai thác. Chúng ta có thể thấy được những cơ hội bằng cách nghiên cứu các khuynh hướng hiện tại và dự đoán chúng có thể phát triển như thế nào.  Đối với trung tâm thông tin - thư viện, cơ hội có thể thấy được có liên quan đến sự phát triển của Internet, nhu cầu đào tạo, trang Web, các cuộc triển lãm ảo… sự phát triển của thư viện ảo giúp truy cập nhiều thông tin và mối quan tâm ngày càng gia tăng của cộng đồng trong việc xây dựng bộ sưu tập địa phương về lịch sử, văn hóa khu vực…
●  Thách thức là những nhân tố bên ngoài, sớm hay muộn thách thức đều tỏ ra bất lợi cho sự phát triển và tính hiệu quả hoạt động trung tâm thông tin - thư viện. Đối với bất kỳ tổ chức nào, sự cảnh giác với khả năng xuất hiện các thách thức, duy trì độ linh hoạt trong phân phối các nguồn lực và quan sát sự phát triển ở những nơi khác của những người trong ngành sẽ giúp bảo đảm những thách thức không thể trở thành những mối hiểm họa. Sự phát triển Internet có thể thấy là khách hàng không đến thư viện mà họ vẫn có thể tìm thấy thông tin họ cần qua hệ máy tính nơi làm việc hay tại nhà. Hơn nữa, các nhân tố kinh tế như tỷ số hối đoái giao động, sự cắt giảm ngân sách nhà nước, việc tăng giá hàng hóa hay dịch vụ cũng có thể gây bất lợi đối với hoạt động hàng ngày của thư viện. 


bantinsom.com ( theo ThS. PHAN THỊ THU NGA PGĐ. Trung tâm Thông tin Tư liệu Đại học Đà Nẵng )