Thứ năm, 28/05/2009, 23:20 GMT+7
Văn hoá doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế: Tổng quát và bàì học kinh nghiệm
Văn hoá doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế : Văn hoá là một khái niệm rất rộng. Năm 1952, Kroeber và Kluckolm đã sưu tầm được 164 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Cho đến nay, con số định nghĩa chắc đã tiếp tục tăng lên chứ không giảm đi
Văn hóa và Văn hóa doanh nghiệp

Một định nghĩa kinh điển được nhiều người chấp nhận là của Edward Tylor: “Văn hoá là tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và bất kỳ năng lực hay hành vi nào khác mà mỗi cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội đạt được”. Còn Edward Hall hiểu Văn hoá là “Một hệ thống nhằm sáng tạo, chuyển giao, lưu trữ và chế biến thông tin. Sợi chỉ xuyên suốt tất cả các nền văn hoá là truyền thông và giao tiếp”. Văn hoá hiểu như vậy là văn hoá theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những gì con người đã tạo ra.

Theo nghĩa hẹp, Văn hoá có thể được hiểu là “Tổng thể các cấu trúc xã hội với các biểu hiện nghệ thuật tôn giáo, trí tuệ của chúng, xác định 1 nhóm người hay một xã hội trong quan hệ với một nhóm người khác hay một xã hội khác”. Văn hoá theo nghĩa hẹp xác định đặc trưng của một dân tộc, một tộc người, một xã hội hay một tầng lớp xã hội trong mối tương quan với các xã hội, dân tộc khác, tộc người khác hay tầng lớp xã hội khác. Tương tự như vậy, có thể hiểu Văn hoá doanh nghiệp (culture of enterprise) là “Tổng thể các truyền thống của các cấu trúc các bí quyết kinh doanh xác lập quy tắc ứng xử nội tại, gắn bó các thành viên với nhau trong một doanh nghiệp” .Nói một cách khác, Văn hoá kinh doanh (business culture) bao gồm “Toàn bộ phương thức tiến hành kinh doanh, quản lý kinh doanh, đàm phán với các đối tác, giải quyết các nhiệm vụ xuất hiện trong quá trình kinh doanh như tổ chức doanh nghiệp, hình thành quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp”. Trong quan hệ giữa các doanh nghiệp, văn hoá kinh doanh trong thị trường, những quy tắc ứng xử được các đối tác cùng chia sẻ, hoặc những truyền thống hay thói quen có tính đặc thù cho từng thị trường, từng nước hay từng nhóm đối tác. Văn hoá kinh doanh đó rất quan trọng để tiến hành kinh doanh một cách thuận tiện và thành công.

Văn hoá doanh nghiệp như vậy phù hợp với định nghĩa của Edward Tylor đã nêu trên, trước hết, phải bao gồm sự tôn trọng luật pháp trong kinh doanh như đăng ký thương hiệu, tôn trọng các quyền về tài sản trí tuệ (intellectual property rights) (mà lâu nay vẫn được gọi một cách thiếu chính xác là sở hữu (ownership), nộp thuế, bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động v.v… cũng như các quy định pháp luật trong quản lý doanh nghiệp như điều lệ công ty, tôn trọng quyền hạn và lợi ích của cổ đông thiểu số. Nỗ lực hình thành và xây dựng văn hoá kinh doanh phải đến từ cả hai phía, từ doanh nghiệp, từ phía cơ quan nhà nước. Pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu, chính xác, không cho phép nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau và phải được thực hiện thống nhất, không phân biệt đối xử và nhất quán trong cả nước đối với các loại doanh nghiệp khác nhau. Cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan nhà nước phải thực thi pháp luật trên cơ sở tôn trọng doanh nghiệp và thực tế, không vì lợi ích của một bên để làm thiệt hại cho bên kia. Việc sửa đổi, thay đổi, bổ sung pháp luật là cần thiết, song phải được thảo luận công khai với các doanh nghiệp, việc công bố và thực hiện và cho phép doanh nghiệp có thời gian cần thiết để chuẩn bị và thực hiện. Thay đổi pháp luật không thể dẫn đến “tiền hậu bất nhất” hay “sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng; anh em lúng túng chẳng biết đúng, sai”. Nếu để xảy ra tình trạng như vậy, lòng tin của doanh nghiệp bị xói mòn, dẫn đến những hành vi ứng xử đối phó thích ứng của doanh nghiệp. Do đó,đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh có văn hoá thì đồng thời, cũng phải đòi hỏi các cơ quan nhà nước không chỉ hoạt động đúng chức trách, thi hành đầy đủ chức năng nhiệm vụ mà còn phải có văn hóa công sở, văn hoá trong ứng xử với công dân và doanh nghiệp. Phải cùng nhau nỗ lực và phấn đấu để xây dựng văn hoá và tôn trọng pháp luật.

Trong quan hệ kinh doanh với các đối tác, Văn hoá kinh doanh phải bao gồm chữ Tín đối với các đối tác và khách hàng. Doanh nghiệp vay mượn của ngân hàng đến hạn phải trả, dẫu có khó khăn. Nếu không trả được đúng hạn, nhất thiết phải thông báo và thương lượng với chủ nợ để gia hạn. Việc giao hàng đúng hạn trở thành một yêu cầu quan trọng của hợp đồng và năng lực cạnh tranh, uy tín của doanh nghiệp. Tốc độ giao hàng và sự đáng tin cậy cũng là một phẩm chất quan trọng, thể hiện năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Chất lượng ổn định của chất lượng sản phẩm là một bộ phận của Văn hoá kinh doanh.

Trong quan hệ với người lao động, Văn hoá kinh doanh không chỉ bao gồm việc thi hành đúng pháp luật như trả lương, thưởng theo cống hiến hay năng suất, trả bảo hiểm xã hội, thực hiện các quy định bảo hộ lao động, tạo điều kiện cho người lao động phát triển…mà còn bao gồm xây dựng môi trường sản xuất kinh doanh dựa trên nguyên tắc nhân ái, bình đẳng, tức là thực hiện chữ nhân thep nghĩa rộng của nó. Một môi trường kinh doanh nhân ái là môi trường kinh doanh khuyến khích sáng tạo và cổ vũ cho sự tiến bộ, phát triển của tất cả người lao động. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt ngày nay, khách hàng luôn mong đợi có những sản phẩm mới, kiểu dáng, bao bì và chất lượng phải thường xuyên có cải tiến. Chữ Nhân trong quan hệ giữa người với người cũng bao hàm sự bình đẳng. Bình đẳng ở đây được hiểu là bình đẳng về cơ hội học tập và phát triển chứ không phải là chủ nghĩa bình quân, cào bằng giữa người giỏi và người kém hay sự buông thả về kỷ luật lao động hay trách nhiệm trong kinh doanh. Một doanh nghiệp muốn phát triển phải có động lực mạnh, khuyến khích đổi mới và sáng tạo, đồng thời cũng phải có trật tự, kỷ cương và chế độ trách nhiệm, chế tài nghiêm ngặt. Buông lỏng kỷ luật, dân chủ giả hiệu theo kiểu mị dân đều không đảm bảo Văn hoá kinh doanh.

Kinh doanh là mưu tìm lợi nhuận trong khuôn khổ luật pháp và có văn hóa. Mưu tìm lợi nhuận bất hợp pháp sẽ không đảm bảo kinh doanh lâu bền. Trong đàm phán, Văn hoá kinh doanh đòi hỏi phải tìm được và chấp nhận điểm dung hoà lợi ích, cho phép cả hai bên cùng có lợi (win-win constellation). Chèn ép đối tác gay gắt, chỉ nghĩ đến lợi nhuận của riêng mình sẽ không thể đem lại quan hệ hợp tác lâu dài. Lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp phải được chia sẻ một cách công bằng, hợp lý giữa các bên góp vốn, người sử dụng lao động và người lao động. Doanh nghiệp không có lợi nhuận thì không thể tồn tại, một doanh nghiệp phá sản sẽ không có khả năng đảm bảo các cam kết tối thiểu của mình. Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, điều kiện kinh doanh bình đẳng, chỉ trên cơ sở có hiệu quả, năng suất và năng lực cạnh tranh cao doanh nghiệp mới có lợi nhuận. Cần loại bỏ những đặc quyền, đặc lợi, chạy cổng hậu để tìm kiếm thu nhập bất chính, vì những thu nhập không chính đáng đó không mang lại tiến bộ chung cho xã hội và dẫn đến những hành vi kinh doanh bất chính, thiếu văn hoá. Trên cơ sở có lợi nhuận, doanh nghiệp không chỉ đóng thuế mà còn tham gia vào nhiều hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội như xây dựng nhà tình nghĩa, giúp đỡ người tàn tật…

Hội nhập kinh tế quốc tế và Văn hoá kinh doanh

Trong quan hệ kinh doanh với các đối tác nước ngoài, Văn hoá kinh doanh càng trở nên quan trọng cho thành công của doanh nghiệp. Ngoại ngữ là cửa sổ để tiếp cận nền văn hoá của đối tác và cũng là phương tiện giao tiếp hàng đầu đối với doanh nghiệp. Trong các ngôn ngữ khác nhau, có loại ngôn ngữ đã phát triển ngôn ngữ kinh doanh và đạt được trình độ chính xác cao, có ngôn ngữ chưa phát triển các thuật ngữ và cách biểu đạt chính xác về khoa học, công nghệ hay thương mại nên phải rất thận trọng để tìm cách biểu đạt chuẩn xác nhất trong hợp đồng.

Thái độ và tác phong giao tiếp là cánh cửa trong quan hệ với các đối tác, cũng còn được coi là “ngôn ngữ im lặng”. Ngoài trình độ giáo dục cơ bản, sự lịch thiệp và tôn trọng đối tác, cần học hỏi những kiến thức cơ bản về phong tục tập quán cả đối tác.

Tôn giáo và tín ngưỡng có tầm quan trọng khác nhau, tuỳ theo từng nền văn hoá. Trong một nền văn hoá đa tôn giáo, cần hết sức tế nhị và nhạy bén để biết tôn trọng tôn giáo chính và những tôn giáo phụ khác. Điều hết sức quan trọng là không được mắc bất kỳ sai lầm thô bạo nào, dẫn đến hiểu lầm về tôn giáo trong kinh doanh.

Trong khi phải hiểu biết, tôn trọng và thích nghi (ở mức độ nhất định) văn hoá của đối tác, phải kiên định nền văn hoá dân tộc, những giá trị bền vững của văn hoá dân tộc trong giao tiếp kinh doanh. Phải kiên trì những yêu cầu giá trị Văn hóa kinh doanh của mình. Nếu doanh nhân từ bỏ mọi giá trị Văn hoá của nước mình, từ bỏ mọi thói quen và theo đuổi vô điều kiện tất cả các thói quen của bên đối tác, về lâu dài, doanh nhân đó sẽ tự dẫn mình đến chỗ bế tắc. Vì doanh nhân sẽ phải giao tiếp trong một môi trường mà mình không quen thuộc và ít hiểu biết hơn đối tác.

Để giúp doanh nhân xây dựng Văn hóa kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế, nên kết nối những viện nghiên cứu chuyên sâu về Đông phương học, Trung Quốc học, Nhật Bản học, Viện nghiên cứu Hoa Kỳ với các yêu cầu bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết và kỹ năng đàm phán, giao tiếp cho doanh nhân Việt Nam.
bantinsom.com ( theo chungta )