|
Khủng hoảng: Đã đến lúc chấm dứt mô hình Đông Á?
Một thế kỷ trước, các nhà lãnh đạo Đông Nam Á được giáo huấn bởi “Washington”. Giờ đây, cuộc khủng hoảng lại khơi nguồn từ chính những quốc gia này khi họ đã làm cho quan hệ xấu thêm bằng cách giang tay bảo vệ chính những lĩnh vực tài chính của mình, tác động xấu đến dòng chảy vốn vào các thị trường đang nổi.
Sự chấm dứt của mô hình Đông Á? Liệu có bất cứ lập luận nền tảng nào cho những tranh cãi này? Đây là các vấn đề rất rộng lớn và phức tạp, và phần lớn lối nói theo chủ nghĩa dân tuý là rỗng tuếch và sai lạc. Trước hết, không ai muốn loại bỏ một “mô hình” mà khi được thực hiện từ thập niên 1950 nó đã tạo nên sự sụt giảm đói nghèo nhanh nhất từng được ghi nhận trong lịch sử. Thứ hai, kinh nghiệm cho thấy các nền kinh tế có độ mở càng lớn, càng có khả năng phát triển nhanh hơn những đối thủ khép kín, tất nhiên, điều này không thể đúng khi nền kinh tế toàn cầu đang trong cơn khủng hoảng. Trừ phi có quốc gia muốn tin vào quan điểm cực đoan – dù phải thừa nhận nó không hẳn vô lý - rằng cuộc khủng hoảng hiện thời báo hiệu sự suy thoái lâu dài của kinh tế toàn cầu, những nền kinh tế mở hơn sẽ tiếp tục có tiếng nói mạnh hơn trong cuộc chạy đua. Thêm vào đó, khi các dấu hiệu phục hồi xuất hiện, các nền kinh tế này sẽ sớm trở lại đường đua hơn là những nền kinh tế có độ mở kém. Con dao hai lưỡi của kinh tế mở
(Ảnh nguồn: chinadaily.com.cn)
Các chính phủ cần phải
kiềm chế toàn cầu hoá một cách chiến lược, để hưởng những lợi ích của
nó trong lúc phải hành động để tránh đi những ảnh hưởng xấu.
Thêm vào đó, một số giao
dịch quốc tế, ví dụ như dòng vốn ngắn hạn, cần phải được kiểm soát.
Cuộc khủng hoảng hiện thời còn hậu quả với cách sử dụng lộn xộn các
thuật ngữ, nhất là khái niệm “các chiến lược định hướng xuất khẩu”
(export-oriented strategies). Một ví dụ có thể đưa ra để mô tả rõ hơn cho vấn đề này là những gì từng xảy ra tại Đông Nam Á. Vào thời điểm cuộc khủng hoảng 1997-1998 nổ ra, nhiều quốc gia đã đúng hoặc sai khi trông đợi sự tích luỹ dự trữ như một công cụ để bảo vệ họ khỏi cuộc khủng hoảng khác cuối cùng lại bị quăng xuống vực bởi sự rút lui bất ngờ của một dòng vốn ngắn hạn. Nhu cầu thay đổi trật tự toàn cầu
Kiểm soát toàn cầu hoá, chứ đừng lẩn tránh nó
Thương mại và các chính
sách đầu tư cần tiếp tục được mở, trong lúc tiếp tục nghĩ về các dạng
thức mới của cơ cấu tài chính và giám sát cẩn trọng trong nước cùng với
trật tự điều chỉnh quốc tế mới. Điều quan trọng là các quốc gia Châu Á
không nên quay trở lại với chủ nghĩa bảo hộ.
Vấn đề quan trọng khác
là nên chọn mô hình nào cho Đông Nam Á? Một cuộc khủng hoảng toàn cầu
yêu cầu một sự đáp trả phối hợp toàn cầu. Không nền kinh tế nào ở Đông
Nam Á nằm trong một liên minh lớn mạnh, dù rằng ASEAN là một tổ chức
khu vực có ảnh hưởng, và Indonosia là một thành viên của nhóm G-20. Nhưng lịch sử cũng chỉ ra rằng ASEAN không được thiết lập để xử trí những vấn đề lớn, như cuộc khủng hoảng hiện thời. Tổ chức này hầu như không phát huy hiệu quả trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1997-1998, cũng như vai trò mờ nhạt của nó trong các sự kiện quan trọng khác như sự ra đời của Đông Timor và các vụ cháy rừng tại Indonesia.
Trong suốt cuộc khủng
hoảng hiện thời, ASEAN hầu như im lặng. Trong cuộc khủng hoảng trước
đó, ASEAN không phải là tổ chức ở vị trí cung cấp sự lãnh đạo vật chất
hay kể cả là trí óc. ASEAN chỉ là người chính trong Quỹ Tiền Tệ Châu Á
và Sáng kiến Chiang Mai, vốn đều được thành lập sau sự kiện 1997-1998. Điều quan trọng hơn cả là các nhà lãnh đạo tại khu vực vẫn chưa định ra được một tầm nhìn cho quãng đường trước mắt. Là một tổ chức, họ có thể cố gắng sử dụng sự tiết chế về chính sách thương mại một cách chiến lược, như một vũ khí để đưa ra một chương trình nghị sự toàn cầu rộng hơn nhằm tham gia vào phản ứng phối hợp với cuộc khủng hoảng. Không ai có thể thờ ơ với tiếng nói thống nhất từ ASEAN
Vấn đề đặt ra là VN nên lựa chọn mô hình phát triển nào? Điều còn lại cần bàn là liệu ASEAN, như một tổ chức khu vực, có thể bị đổ vỡ bởi sự ì trệ này. Một luồng ý kiến độ lượng cho rằng tổ chức này không được thành lập để xử trí các nhiệm vụ giải quyết căng thẳng phức tạp. Những đánh giá tiêu cực hơn lại lập luận rằng tổ chức này không có vai trò thực tiễn, ít nhất cho đến khi các hợp tác kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu.
Cuối cùng, Trung Quốc có
thể duy trì sức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong suốt cuộc khủng hoảng
và tạo ra tác động thay đổi cấu trúc chiến lược khu vực, và thậm chí là
toàn cầu. Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng như một đối tác phát triển hấp dẫn, và dần thay chỗ hai đối tác truyền thống của Đông Nam Á là Mỹ và Nhật Bản như nhà tài trợ, đầu tư và thương mại chính. Sự suy thoái trong thời gian dài của nền kinh tế Nhật bản từ đầu thập niên 1990 đã gây tác động lớn đến giấc mơ Đông Nam Á về “kiểu mẫu Nhật Bản”, đặc biệt là các chính sách hoạch động và thúc đẩy công nghiệp đáng tự hào. Cuộc khủng hoảng hiện thời cũng dẫn đến sự tái định giá tương tự về “kiểu mẫu Mỹ”, nhất là khi nó liên quan đến thị trường tài chính. Trong khi đó, quyền lực mềm của Trung Quốc đang được củng cố lớn mạnh, trừ phi quốc gia này có những sai lầm lớn như tạo ra quá nhiều sự can thiệp chiến lược ở bên ngoài hoặc không giữ nhịp được với những kỳ vọng ngày càng gia tăng trong nước.
bantinsom.com ( theo vietnamnet )
Các tin khác:
▪ Niềm tin tiêu dùng ở VN 'suy giảm ' (11/05)
|