Thứ sáu, 22/05/2009, 20:07 GMT+7
Khủng hoảng: Đã đến lúc chấm dứt mô hình Đông Á?
Một thế kỷ trước, các nhà lãnh đạo Đông Nam Á được giáo huấn bởi “Washington”. Giờ đây, cuộc khủng hoảng lại khơi nguồn từ chính những quốc gia này khi họ đã làm cho quan hệ xấu thêm bằng cách giang tay bảo vệ chính những lĩnh vực tài chính của mình, tác động xấu đến dòng chảy vốn vào các thị trường đang nổi.
Khung hoang: Da den luc..

 

Sự chấm dứt của mô hình Đông Á?

Liệu cuộc khủng hoảng hiện nay có dẫn đến một thay đổi lớn trong chiến lược phát triển tại Đông Nam Á? Đã có những nhận xét rằng cuộc khủng hoảng đã đánh dấu chấm hết cho “mô hình Đông Á”, rằng các nền kinh tế đó cần phải được “tái cân bằng”, hoặc phải vứt bỏ mô hình kinh tế dựa vào xuất khẩu. Làn sóng chỉ trích “sự đồng thuận Washington” - với bất cứ nghĩa nào – đang nổi lên và sự nhìn nhận về toàn cầu hoá đang ngày càng tiêu cực.

Liệu có bất cứ lập luận nền tảng nào cho những tranh cãi này? Đây là các vấn đề rất rộng lớn và phức tạp, và phần lớn lối nói theo chủ nghĩa dân tuý là rỗng tuếch và sai lạc.

Trước hết, không ai muốn loại bỏ một “mô hình” mà khi được thực hiện từ thập niên 1950 nó đã tạo nên sự sụt giảm đói nghèo nhanh nhất từng được ghi nhận trong lịch sử. Thứ hai, kinh nghiệm cho thấy các nền kinh tế có độ mở càng lớn, càng có khả năng phát triển nhanh hơn những đối thủ khép kín, tất nhiên, điều này không thể đúng khi nền kinh tế toàn cầu đang trong cơn khủng hoảng.

Trừ phi có quốc gia muốn tin vào quan điểm cực đoan – dù phải thừa nhận nó không hẳn vô lý - rằng cuộc khủng hoảng hiện thời báo hiệu sự suy thoái lâu dài của kinh tế toàn cầu, những nền kinh tế mở hơn sẽ tiếp tục có tiếng nói mạnh hơn trong cuộc chạy đua. Thêm vào đó, khi các dấu hiệu phục hồi xuất hiện, các nền kinh tế này sẽ sớm trở lại đường đua hơn là những nền kinh tế có độ mở kém.

Con dao hai lưỡi của kinh tế mở

(Ảnh nguồn: chinadaily.com.cn)

Điều sai lầm là xác nhận quả quyết, như một số người đang làm, rằng việc duy trì các chính sách kinh tế mở sẽ tự động đảm bảo cho sự thịnh vượng tăng trưởng. Các nền kinh tế thuộc địa hầu hết là mở, nhưng điều đó không giúp họ được nhiều.

Một cách chung hơn, sự mở cửa là con dao hai lưỡi. Toàn cầu hoá nhanh chóng chuyển hoá “những điều tốt” cũng như “những cái xấu”. “Cái xấu” không chỉ là cúm gia cầm, hay ma tuý, mà còn là những sự nhiễm độc tài chính.

Các chính phủ cần phải kiềm chế toàn cầu hoá một cách chiến lược, để hưởng những lợi ích của nó trong lúc phải hành động để tránh đi những ảnh hưởng xấu.

Cần đảm bảo để tạo ra những cơ hội giáo dục rộng khắp - một sức mạnh truyền thống Đông Á - để đảm bảo dân số có thể nắm bắt được những cơ hội do toàn cầu hoá tạo ra. Các tổ chức chia sẻ mạo hiểm, công cũng như tư nhân, cần phải sẵn sàng để đối phó với sự không kiên định của thị trường.

Thêm vào đó, một số giao dịch quốc tế, ví dụ như dòng vốn ngắn hạn, cần phải được kiểm soát. Cuộc khủng hoảng hiện thời còn hậu quả với cách sử dụng lộn xộn các thuật ngữ, nhất là khái niệm “các chiến lược định hướng xuất khẩu” (export-oriented strategies).

Nếu điều này chỉ đơn thuần mang nghĩa “độ mở”, nó chỉ là những rào cản thương mại nhỏ nhất, và không cần thiết phải có sự thay đổi hướng đi. Nhưng nếu nó ám chỉ chủ nghĩa trọng thương, về khía cạnh chiến lược có chủ đích để tạo điều kiện cho xuất khẩu hơn nhập khẩu như một công cụ để tăng dự trữ quốc tế, thì đó sẽ là chính sách không phục vụ cho lợi ích của bất cứ ai, kể cả lợi ích công cộng quốc tế về một thể chế thương mại toàn cầu tin cậy và cởi mở với sự thiếu công bằng thương mại có thể kiểm soát, cũng như dân số tại quốc gia đó bị từ chối những cơ hội tiêu thụ hàng hoá tốt.

Một ví dụ có thể đưa ra để mô tả rõ hơn cho vấn đề này là những gì từng xảy ra tại Đông Nam Á. Vào thời điểm cuộc khủng hoảng 1997-1998 nổ ra, nhiều quốc gia đã đúng hoặc sai khi trông đợi sự tích luỹ dự trữ như một công cụ để bảo vệ họ khỏi cuộc khủng hoảng khác cuối cùng lại bị quăng xuống vực bởi sự rút lui bất ngờ của một dòng vốn ngắn hạn.

Nhu cầu thay đổi trật tự toàn cầu

Kiểm soát toàn cầu hoá, chứ đừng lẩn tránh nó
(Ảnh: kuleuven.be)

Các nhà lãnh đạo Đông Nam Á cảm thấy giận giữ một cách chính đáng với trật tự toàn cầu hiện nay. Một thế kỷ trước, họ được giáo huấn bởi “Washington”, gồm cả chính quyền Mỹ và các tổ chức tài chính quốc tế đặt trụ sở tại đây, về sự cần thiết phải cải tổ và có nền quản trị tốt hơn, và sự thành công của chính sách tự do hoá kinh tế xu hướng Anglo-Saxon.

Giờ đây, cuộc khủng hoảng lại khơi nguồn từ chính những quốc gia này khi họ đã làm cho quan hệ xấu thêm bằng cách giang tay bảo vệ chính những lĩnh vực tài chính của mình, tác động xấu đến dòng chảy vốn vào các thị trường đang nổi.

Hậu quả của nó rất lớn đối với các thị trường đang nổi tại khu vực. Ví dụ như, Indonesia gần đây đã phải thu góp 3 tỉ USD với mức lợi tức cao lịch sử 11,2% cho trái phiếu 10 năm và 10,5% cho trái phiếu 5 năm, tương đương với khoảng 600 điểm cơ bản từ Kho bạc Mỹ. Trước đó, Philippines cũng bị buộc phải trả lớn hơn mức Ngân khố, khi họ phải vay nợ khoản tiền 1,5 tỉ USD.

Thương mại và các chính sách đầu tư cần tiếp tục được mở, trong lúc tiếp tục nghĩ về các dạng thức mới của cơ cấu tài chính và giám sát cẩn trọng trong nước cùng với trật tự điều chỉnh quốc tế mới. Điều quan trọng là các quốc gia Châu Á không nên quay trở lại với chủ nghĩa bảo hộ.

Bài học trước đó vẫn còn nguyên: Hãy mở cửa, kiểm soát toàn cầu hoá hơn là trốn tránh nó và khuyến khích các nỗ lực hợp tác quốc tế vì một trật tự toàn cầu được điều chỉnh tốt hơn và công bằng hơn.

Vấn đề quan trọng khác là nên chọn mô hình nào cho Đông Nam Á? Một cuộc khủng hoảng toàn cầu yêu cầu một sự đáp trả phối hợp toàn cầu. Không nền kinh tế nào ở Đông Nam Á nằm trong một liên minh lớn mạnh, dù rằng ASEAN là một tổ chức khu vực có ảnh hưởng, và Indonosia là một thành viên của nhóm G-20.

Khi ASEAN đang tiến gần đến lễ sinh nhật thứ 42, tổ chức này có thể tự hào về những thành quả của mình khi tạo ra được một liên minh có ảnh hưởng và bền chặt nhất trong các quốc gia đang phát triển. Nhưng cuộc khủng hoảng này đã tạo ra một thách thức lớn đối với mức tín nhiệm của ASEAN.

Một trong những sức mạnh của ASEAN là sự tiếp cận chừng mực, không đe doạ đối với các vấn đề, cũng như sự hài hoà mà nó tạo ra trong một khu vực từng ở vòng xoáy bất an trong lịch sử.

Nhưng lịch sử cũng chỉ ra rằng ASEAN không được thiết lập để xử trí những vấn đề lớn, như cuộc khủng hoảng hiện thời. Tổ chức này hầu như không phát huy hiệu quả trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1997-1998, cũng như vai trò mờ nhạt của nó trong các sự kiện quan trọng khác như sự ra đời của Đông Timor và các vụ cháy rừng tại Indonesia.

Trong suốt cuộc khủng hoảng hiện thời, ASEAN hầu như im lặng. Trong cuộc khủng hoảng trước đó, ASEAN không phải là tổ chức ở vị trí cung cấp sự lãnh đạo vật chất hay kể cả là trí óc. ASEAN chỉ là người chính trong Quỹ Tiền Tệ Châu Á và Sáng kiến Chiang Mai, vốn đều được thành lập sau sự kiện 1997-1998.

Nhưng tổ chức ban đầu đã được sinh ra, trong lúc hai tổ chức sau lại chưa có chức năng hữu hiệu. Thêm vào đó, những chuẩn bị hỗ trợ dự phòng quan trọng khong tham gia vào hợp tác bên trong ASEAN.

Để minh hoạ rõ hơn, Indonesia gần đây đã bắt tay vào thoả thuận với Ngân hàng Phát triển Châu Á, Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới và Australia, dù rằng Singapore và Malaysia cũng có những nguồn dự trữ ngoại hối lớn. Các vụ thương thuyết về trao đổi song phương cũng đang diễn ra khắp khu vực, cho thấy các vấn đề điều hành, quản trị và kỹ trị đang

Điều quan trọng hơn cả là các nhà lãnh đạo tại khu vực vẫn chưa định ra được một tầm nhìn cho quãng đường trước mắt. Là một tổ chức, họ có thể cố gắng sử dụng sự tiết chế về chính sách thương mại một cách chiến lược, như một vũ khí để đưa ra một chương trình nghị sự toàn cầu rộng hơn nhằm tham gia vào phản ứng phối hợp với cuộc khủng hoảng.

Không ai có thể thờ ơ với tiếng nói thống nhất từ ASEAN

Vấn đề đặt ra là VN nên lựa chọn mô hình phát triển nào?
(Ảnh: dibrary.acu.edu.au)


Bất kể các diễn đàn quốc tế đang có trọng lượng hiện thời như G2, G7 hay G20, không ai dám quay lưng với tiếng nói thống nhất từ khu vực có 550 triệu người dân, bao gồm những đất nước có mô hình phát triển thành công trong thế giới thứ ba.

Điều còn lại cần bàn là liệu ASEAN, như một tổ chức khu vực, có thể bị đổ vỡ bởi sự ì trệ này. Một luồng ý kiến độ lượng cho rằng tổ chức này không được thành lập để xử trí các nhiệm vụ giải quyết căng thẳng phức tạp. Những đánh giá tiêu cực hơn lại lập luận rằng tổ chức này không có vai trò thực tiễn, ít nhất cho đến khi các hợp tác kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu.

Cuối cùng, Trung Quốc có thể duy trì sức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong suốt cuộc khủng hoảng và tạo ra tác động thay đổi cấu trúc chiến lược khu vực, và thậm chí là toàn cầu.

Không giống như thời kỳ năm 1997-1998, khi vẫn còn những e dè trong khu vực đối với Trung Quốc cả về mặt chính trị lẫn như một đối thủ thương mại, quốc gia đông dân nhất thế giới này giờ đây được xem như niềm hy vọng chính dẫn đến sự phục hồi kinh tế.

Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng như một đối tác phát triển hấp dẫn, và dần thay chỗ hai đối tác truyền thống của Đông Nam Á là Mỹ và Nhật Bản như nhà tài trợ, đầu tư và thương mại chính. Sự suy thoái trong thời gian dài của nền kinh tế Nhật bản từ đầu thập niên 1990 đã gây tác động lớn đến giấc mơ Đông Nam Á về “kiểu mẫu Nhật Bản”, đặc biệt là các chính sách hoạch động và thúc đẩy công nghiệp đáng tự hào.

Cuộc khủng hoảng hiện thời cũng dẫn đến sự tái định giá tương tự về “kiểu mẫu Mỹ”, nhất là khi nó liên quan đến thị trường tài chính. Trong khi đó, quyền lực mềm của Trung Quốc đang được củng cố lớn mạnh, trừ phi quốc gia này có những sai lầm lớn như tạo ra quá nhiều sự can thiệp chiến lược ở bên ngoài hoặc không giữ nhịp được với những kỳ vọng ngày càng gia tăng trong nước.

 

bantinsom.com ( theo vietnamnet )
Các tin khác: