Thứ hai, 18/05/2009, 20:21 GMT+7
Mô hình Kornai về các hệ thống kinh tế ( Phần 02)
4. Tính hiệu quả và Dân chủ : 4.1 Tính hiệu quả: Cho đến điểm này chưa có thảo luận về tính hiệu quả kinh tế. Hiệu quả có thể đo lường bằng một tập các chỉ số. Một số đo của tính hiệu quả là năng suất lao động.
Mo hinh Kornai ve cac he..

 

Thay cho việc đi vào chi tiết chúng ta chỉ nhắc tới một vài khẳng định có thể rút ra từ mô hình lí thuyết và được xác nhận bởi các số liệu thống kê thực tế.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa là phi hiệu quả về mặt kinh tế


Có thể chỉ ra về mặt lí thuyết rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển là phi hiệu quả về mặt kinh tế . V. I. Lenin viết vào năm 1918, ngay khi thiết lập hệ thống xã hội chủ nghĩa, rằng cuộc đua giữa hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa rốt cuộc sẽ được quyết định bằng việc hệ thống nào có thể đảm bảo năng suất cao hơn và ông tin rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa sẽ thắng[Lenin 1918, [1969] p. 248]). Ðiểm mấu chốt thực tế của bước ngoặt 1989-1990 chính là hệ thống xã hội chủ nghĩa đã thua trong cuộc đua này. Khẳng định này được xác nhận một cách rõ ràng bằng các số liệu thống kê so sánh về kết quả kinh tế của hai hệ thống (xem thí dụ [Kornai 2000, pp. 38-39], [Kornai 1992], hoặc so sánh kết quả kinh tế của các nước có các điều kiện xuất phát tương tự nhau như giữa Ðông Ðức và Tây Ðức, Ðại Hàn và CHÐCN Triều Tiên, Ðài Loan và Trung Hoa lục địa).

Là thành viên của hệ thống tư bản chủ nghĩa là một điều kiện cần nhưng không là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế.

Ðiều kiện cần của khẳng định này có thể thấy một cách rõ ràng từ khẳng định lí thuyết được thực tế xác nhận nêu ở a) kể trên và sự thực là tất cả các nền kinh tế hiệu quả đều là các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhưng cũng có rất nhiều nền kinh tế tư bản chủ nghĩa kém hiệu quả và nhiều nước đi theo chủ nghĩa tư bản vẫn ở trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Ðiều này xác minh vế thứ hai của khẳng định: tư bản chủ nghĩa không phải là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế.

Tuy chuyển sang hệ thống tư bản chủ nghĩa không đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế, nó cho cơ hội để đạt hiệu quả cũng như những ưu việt khác của tư bản chủ nghĩa. Phát triển công nghệ nhanh hơn, bởi vì hệ thống tư bản chủ nghĩa có thiên hướng nhiều hơn để tiến hành đổi mới công nghệ. Chủ nghĩa tư bản và tinh thần kinh doanh dọn đường cho công việc kinh doanh và tạo ra những kích thích, khuyến khích trong nền kinh tế. Nó sử dụng những nguồn lực con người và vật lí một cách hiệu quả hơn hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ðiều này có nghĩa rằng, ở tầm dài hạn, nó phát triển nhanh hơn và tăng sản xuất và năng suất lao động nhanh hơn, và chính vì thế làm tăng phúc lợi vật chất cho con người nhanh hơn. Làm sao để tận dụng được các cơ hội đó lại là vấn đề khác, song nếu không có cả cơ hội nữa thì thật là thảm hoạ.

4.2 Dân chủ

Chủ nghĩa tư bản là một điều kiện cần của dân chủ. Cũng như lí giải các khái niệm trước, chúng ta tránh đưa ra một định nghĩa chuẩn tắc về dân chủ. Khởi điểm sẽ không phải là cái chúng ta "mong đợi" ở dân chủ; tức là những cái đặc trưng mà một chế độ có để đáng gọi là dân chủ cần có. Thay vào đó, chúng ta muốn đưa ra một định nghĩa thực chứng, mô tả, giải thích về dân chủ. Nó phải dựa trên cơ sở chắt lọc từ những đặc tính chung của các nước được biết đến một cách rộng rãi là các nước dân chủ.ii Dân chủ là một sự kết hợp của các tổ chức chính trị, các định chế, các chuẩn mực xã hội và các dạng mẫu ứng xử được thừa nhận mà chúng tạo thành các điều kiện hoạt động cho xã hội. Cần nhấn mạnh là dân chủ không chỉ có nghĩa là bỏ phiếu, bầu cử, hay nguyên tắc đa số. Dân chủ đòi hỏi các quyền lợi, quyền tự do phải được bảo vệ, các quyền hợp pháp phải được tôn trọng, thảo luận tư do phải được đảm bảo và thông tin được phát tán mà không bị kiểm duyệt [Amartya Sen 2001], với sự tham gia tích cực của và rộng rãi của công dân [J. Stiglitz 2001]. Chúng ta liệt kê bốn điều kiện tối thiểu cho một nền dân chủ khả dĩ; ngay thứ tự liệt kê chúng cũng quan trọng.

Chính phủ có thể bị giải tán, và việc giải tán được tiến hành một cách văn minh. Ðối với chúng ta, những người sống trong các nước hậu xã hội chủ nghĩa, hiểu rất rõ việc hạ bệ các nhân vật cầm quyền hay nhóm cầm quyền một cách phi văn minh là thế nào; họ bị hạ sát, là nạn nhân của một cuộc đảo chính, bị tử hình hay cầm tù sau khi bị hạ bệ, bị lật đổ bởi một cuộc khởi nghĩa, v.v và v.v.

Các nền dân chủ sử dụng thủ tục bầu cử để hạ bệ một cách văn minh. Thủ tục này được kiểm soát bởi các luật bổ sung bởi các quy ước. Thủ tục bầu cử phản ánh ở mức độ nào đó sự đồng tình hay bất đồng tình chính trị. Chúng ta tránh nhấn mạnh bằng cách nói rằng dân chủ phản ảnh "ý nguyện của đa số" hay "ý nguyện của dân", bởi vì sự truyền dẫn từ những ưa thích của công dân tới thành phần của quốc hội và chính phủ theo thủ tục bầu cử không phải là không có ma sát và méo mó.iii

Trong một nền dân chủ, không một quyền lực chính trị nào hay ý thức hệ chính trị nào có độc quyền được đảm bảo bởi sức mạnh của nhà nước. Quá trình chính trị dựa trên cơ sở cạnh tranh, tranh đua: các đảng, các phong trào và các nhóm chính trị giành giật với nhau vì lá phiếu và sự ủng hộ chính trị khác. Do đó, tất cả các nền dân chủ đều hoạt động như một hệ thống đa đảng.

Dân chủ không chỉ đơn thuần ban hành các quyền tự do chính trị, nó đảm bảo chúng trong thực tiễn. Nhà nước không thể cản trở bằng vũ lực quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hay tự do hội họp và lập hội.

Dùng một tiêu chuẩn đơn giản và dễ kiểm chứng, dân chủ có thể được coi là đã được củng cố ở mức độ nhất định khi đã có bầu cử tự do ít nhất hai lần, tạo một cơ hội thật sự cho việc hạ bệ chính phủ. Tiêu chuẩn đó phân loại rõ ràng, thí dụ, rằng các chế độ chính trị hiện hành ở Cộng hoà Czeck, Hungary và Ba Lan là dân chủ.

Không có nước nào với một nền dân chủ chính trị, trước đây cũng như ngày nay, mà sở hữu tư nhân và điều phối thị trường lại không chiếm ưu thế trong nền kinh tế của nó. Tuy vậy, sở hữu tư nhân và thị trường không phải là điều kiện đủ để tạo ra nền dân chủ. Như đã nhắc tới ở trên, đã có và vẫn còn nhiều nước có chế độ chính trị phi dân chủ, chuyên quyền, thậm chí độc tài mà sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường chiếm ưu thế trong nền kinh tế. Sự kết hợp này chắc hẳn có thể tồn tại được ở tầm ngắn hạn, và thậm chí cả ở tầm trung hạn.

Liệu một nền kinh tế thị trường trên cơ sở sở hữu tư nhân có trợ giúp cho sự xuất hiện của một nền dân chủ chính trị ở tầm dài hạn? Có nhiều thí dụ lịch sử trong đó tiếng nói và những lợi ích của thị trường tư bản chủ nghĩa dường như đã giúp tạo ra sự chuyển đổi dân chủ, bao gồm các chế độ độc tài ở Nam Âu và ở nhiều nước Viễn Ðông và Mĩ Latin. Tuy vậy, khi những tính toán kinh tế lượng được tính một cách có hệ thống để phân tích mối quan hệ giữa dân chủ, các định chế thị trường và tăng trưởng, với số lượng các nước được xem xét là lớn và số liệu mẫu ở tầm dài hạn, thì kết quả vẫn chưa thuyết phục (thí dụ, Barro, 1991, 1996a, b; Tavares and Wacziarg, 1996). Giả thiết chẳng được xác nhận một cách rõ ràng cũng chẳng bị bác bỏ một cách hoàn toàn. Cần thêm kinh nghiệm lịch sử, bao gồm cả lịch sử vừa qua và trong thời gian tới của chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa, sẽ cung cấp thêm các bằng chứng để giải quyết giả thiết này.

Mặt khác, có những căn cứ [xem M. Pei 2001 và trích dẫn ở đó] ủng hộ lập luận cho rằng sự thịnh vượng kinh tế có tác động đáng kể đến sự bền vững của nền dân chủ chứ không phải đến sự xuất hiện của nền dân chủ. Nói cách khác các nước dân chủ nghèo hơn có nền dân chủ mỏng manh hơn so với các nước dân chủ thịnh vượng hơn. Theo đó, tuổi thọ trung bình của một nền dân chủ là 8 năm khi GDP trên đầu người -tính theo sức mua (PPP)- là 1.000 USD; là 26 năm khi GDP trên đầu người ở khoảng 2.001 đến 3.000 USD; khi thu nhập bình quân trên đầu người vượt qua ngưỡng 6.000 USD thì nền dân chủ là bất tử. Các bằng chứng thống kê cho thấy chế độ chuyên chế vẫn có thể tồn tại dai dẳng trên cả những ngưỡng giàu có này.

Giá trị của dân chủ có thể phán xét theo hai cách. Thứ nhất là xem xét giá trị phương tiện của dân chủ. Người ta đôi khi lập luận rằng dân chủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi vật chất. Thí dụ, Olson (1996, p.18) lập luận rằng sự hoạt động trôi chảy của sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường được lợi từ sự an toàn và sự tin cậy của một nhà nước lập hiến, ngược lại với sự cai trị độc tài chuyên chế, khi mà tính thất thường, đồng bóng của nhà độc tài làm cho các sự kiện càng khó phán đoán hơn. Hay nghiên cứu dữ liệu tăng trưởng của 115 quốc gia từ 1960 đến 1980 của Scully [xem M. Pei 2001 và trích dẫn ở đó] cho thấy rằng các nước có mức cởi mở chính trị cao thì đạt được tỉ lệ tăng trưởng bình quân đầu người thực tế hàng năm là 2,53%, so với 1,41% ở các nước có hệ thống chính trị khép kín hơn. Nói cách khác, các nước dân chủ tăng trưởng nhanh hơn 80% so với các nước ít dân chủ hơn. Phân tích số liệu của 159 nước M. Pei thấy tác động quan trọng của thu nhập đầu người tới dân chủ, tăng thêm 1.000 USD thu nhập (tính theo sức mua tương đương: PPP) làm cho mức dân chủ tăng 0,287 trong thang 12 điểm. Trong khi tác động này là có vẻ hợp lí, nhưng đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện, như được Offe (1991) thảo luận. Tuân thủ các quy tắc dân chủ có thể làm cho việc đưa ra các chính sách đáng mong mỏi trở nên khó khăn hơn. Có các chế độ chuyên quyền có tính hiệu quả cao, như Ðài Loan, Ðại Hàn trong các thập niên đầu sau Chiến tranh thế giới thứ 2 hay Singapore ngày nay, và có các nền dân chủ ì ạch, như ấn Ðộ trong hầu hết thời kì sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2. Nhà đầu tư có thể ưa sự ổn định của một nền dân chủ đã được củng cố hay sự ổn định bất luận xuất hiện trong chế độ dân chủ hay chuyên chế.

Một mặt, tuy vậy có khả năng là sự luân chuyển thông tin mau lẹ trong xã hội hiện đại sẽ tạo khả năng cho một sự liên hệ mạnh hơn giữa dân chủ và tăng trưởng. Trong thời đại của máy tính, máy photocopy, máy fax và Internet, sự cấm đoán của chế độ độc tài ngăn cản sự phổ biến, truyền bá những sáng chế, đổi mới và thông tin kinh doanh, điều đó làm cản trở sự tham gia vào mạng lưới kinh doanh toàn cầu. Chẳng sớm thì muộn, cách mạng kĩ thuật bao gồm công nghệ thông tin sẽ tạo áp lực lên các nước vẫn theo đuổi chính sách chính trị hạn chế truyền thông, thông tin sẽ hoặc buộc phải dỡ bỏ các rào cản đối với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp, và như vậy sẽ thúc đẩy dân chủ; hoặc các nước này sẽ tụt hậu thảm hại một cách không thể tránh khỏi trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.

Mặt khác, tuy có một số chế độ chuyên chế có hiệu quả kinh tế như nêu trên, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy các chế độ chuyên chế ưu việt hơn so với các chế độ dân chủ về tăng trưởng kinh tế. Hơn thế nữa, bài học của cuộc khủng hoảng tài chính 1997 cho thấy rõ sự thiếu dân chủ ở các nước công nghiệp mới ở Châu á đã là một nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng. Có nhiều nghiên cứu mới đây về quan hệ giữa dân chủ và tăng trưởng [xem Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển Ngân hàng Thế giới 2001].

A. Sen [2001] cho rằng dân chủ có ba đóng góp tích cực nổi bật. Thứ nhất dân chủ làm giàu cuộc sống cá nhân do có quyền tự do chính trị, một phần cốt lõi của nhân quyền; thứ hai, dân chủ đảm bảo các kích thích chính trị cho các nhà cầm quyền nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân; và thứ ba, thông qua đối thoại và tranh luận công khai dân chủ giúp hình thành những giá trị cũng như những ưu tiên. Ông lưu ý rằng trong lịch sử nạn đói khủng khiếp trên thế giới, chưa bao giờ xảy ra nạn đói đáng kể ở bất kì một nước dân chủ với một nền báo chí tương đối tự do, ngược lại với nạn đói khủng khiếp đã xảy ra ở Xu đăng, Etiôpi, Xômali, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, hay nạn đói thời 1958-1961 ở Trung Quốc cướp đi sinh mạng của gần 30 triệu người.

Chính vì vậy, lập luận căn bản ủng hộ dân chủ nằm ở giá trị nội tại của nó đảm bảo quyền tự do chính trị và ngăn chặn chế độ độc tài. Ðiều này có một giá trị thật to lớn.

Cũng có những người khác đánh giá theo các thang giá trị khác có thể phán xét khác đi. Những kẻ coi rẻ dân chủ - bởi vì nó chưa từng là quan trọng đối với họ, hoặc họ đã quên cảm giác ra sao khi phải sống trong cảnh bị tước đoạt quyền tự do chính trị, dưới một chính thể độc tài áp đặt quy tắc bằng vũ lực - chẳng bao giờ được thuyết phục và nhận thức được về sự thích đáng phi thường này của đức hạnh dân chủ. Ngay cả những người rất coi trọng dân chủ cũng cần thấy rằng chỉ riêng sự thực của chuyển đổi hệ thống không đảm bảo cho dân chủ. Sự dịch chuyển sang chủ nghĩa tư bản đơn giản chỉ tạo ra một trong các điều kiện cần thiết cho dân chủ.


Tài liệu Tham khảo

Barro, Robert. 1991. "Economic Growth in a Cross-section of Countries". Quarterly Journal of Economics. 106:2, pp. 407-43.
Barro, Robert. 1996a. "Democracy and Growth". Jornal of Economic Growth. 1:1, pp. 1-27.
Barro, Robert. 1996b. Determinants of Democracy. Mimeo, Cambridge: Havard University
Dahl, Robert A. 1971. Polyarchy. Participation and Opposition. New Haven and London: Yale Univerity Press, pp. 1-16
Hayek, Friederich A. 1960. The Constitution of Liberty. London: Routledge, and Chicago University Press.
Hayek, Friederich A. 1989. Order - With or Without Design. London: Center for Research into Communist Economies.
Huntington, Samual P. 1991. The Third Wave. Democratization in the Twentieth Century. Norman and London: University of Oklahoma Press.
Kornai, J. 1992. The Socialist System. The Political Economy of Communism. Princeton: Princeton University Press, and Oxford: Oxford University Press. Hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chính trị kinh tế học phê phán. Hà nội: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin 2002.
Kornai, J. 2000. "What the Change of System From Socialism to Capitalism Does and Does Not Mean" Journal of Economic Perspectives. Vol. 14, No.1, Winter 2000.
Lenin, V.I. [1918] 1969. "Immediate Tasks of the Soviet Government". in: Collected Works, vol. 27. Moscow: Progress, pp. 235-77.
Linblom, Charles E. 1977. Politics and Markets. The World's Political-Economic Systems. New York: Basic Books, pp. 131-43.
Ngân hàng Thế giới: The World Bank: Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do Farrukh I. và Jong-Il You chủ biên. Hà nội, the World Bank. 2002
Offe, Claus. 1991. "Capitalism by Democratic Design? Democratic Theory Facing the Triple Transition in East Central Europe". Social Research. 58:4, pp. 893-902.
Pei, Mixin. 2002. "Thiết chế Chính trị, Dân chủ và Phát triển" trong Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do Farrukh I. và Jong-Il You chủ biên pp. 51-75. Hà nội, the World Bank. 2002
Schumpeter, Joseph A. 1947. Capitalism, Socialism, and Democracy. New York: Harper.
Sen, Amartya. 2000. Development as Freedom. New York: Anchor Books. Phát triển là Quyền Tự do. Hà nội: Nhà xuất bản Thống kê-2002.
Sen, Amartya. 2002. "Dân chủ và Công Bằng Xã hội" trong Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do Farrukh I. và Jong-Il You chủ biên pp. 29-49. Hà nội, the World Bank. 2002
Soros, G. 1987. The Alchemy of Finance. New York: Simon & Schuster.
Soros, G. 1998. The Crisis of Global Capitalism. PublicationAffair.
Stiglitz, J. "Tham gia và Phát triển" trong Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do Farrukh I. và Jong-Il You chủ biên pp. 77-101. Hà nội, the World Bank. 2002.
Tavares, J. and Romain Wacziarg. 1996. How Democracy Fosters Growth. Mimeo, Havard University.


[1] 1) Liên xô 1917, 2) Mông cổ 1921, 3) Anbani 1944, 4) Nam tư 1945, 5) Bungary 1947, 6) Tiệp kắc 1948, 7) Hungary 1948, 8) Ba lan 1948, 9) Rumani 1948, 10) Bắc Triều Tiên 1948-, 11) Trung quốc 1948-, 12) Ðông Ðức 1949, 13) Việt nam 1954-, 14) Cuba 1959-, 15) Công gô 1963, 16) Somali 1969, 17) Nam Yêmen 1969, 18) Bênin 1972-, 19) Etiôpi 1974, 20) Angola 1975, 21) Kampuchia 1975, 22) Lào 1975-, 23) Môzambic 1975, 24) Afganistan 1978, 25) Nicaragoa 1979, 26) Zimbabuê 1980. Số năm kèm theo tên nước là năm lên nắm quyền. Trong số này chỉ còn Cuba, Bắc Triều Tiên là thực sự vẫn theo hệ thống cổ điển, Trung quốc, Lào và Việt nam vẫn gọi mình là xã hội chủ nghĩa nhưng không còn là chủ nghĩa xã hội cổ điển, tất cả các nước khác đã chuyển đổi sang hệ thống tư bản chủ nghĩa.

[2] Không có sự đồng thuận về lí giải khái niệm dân chủ trong lí thuyết chính trị. Quan điểm trình bày ở đây được nhiều lí thuyết chính trị chia sẻ. Công trình cổ điển của Schumpeter- Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Dân chủ: Capitalism, Socialism and Democracy (1947, ch. 2 và tr. 269) là đặc biệt tiên phong. Theo mô tả súc tích của Hungtington (1991, pp. 5-7), các tiếp cận này xuất phát từ "các định nghĩa mang tính kinh nghiệm, mô tả, thể chế và thủ tục", ngược lại với các lí thuyết khác áp dụng định nghĩa không tưởng, duy tâm về dân chủ. Những lí giải "kinh nghiệm-mô tả" như vậy cũng được sử dụng trong các công trình nổi tiếng của Dahl (1971) và Linblom (1977), tất nhiên các tác giả khác nhau không phân loại các đặc tính chính theo một cách hệt như nhau.

[3] Như Samuel Huntington (1991, pp.9-10) viết, "Các cuộc bẩu cử, công khai, tự do, và thẳng thắn . . . [có thể tạo ra các chính phủ] không hiệu quả, tham nhũng, thiển cận, vô trách nhiệm, bị các lợi ích riêng chi phối, và bất lực trong việc đưa ra các chính sách mà lợi ích công động đòi hỏi. Những tính chất này có thể làm cho các chính phủ như vậy là không đáng mong muốn song không làm chúng thành phi dân chủ." 

bantinsom.com ( theo chungta )
Các tin khác: