Tóm tắt : Cần phải tìm hiểu trước thị trường người tiêu dùng và hành vi mua sắm của người tiêu dùng thì mới có thể xây dựng được những kế hoạch Marketing có căn cứ.
|
| PHAN TICH THI TRUONG , NGUOI.. |
Thị
trường người tiêu dùng mua hàng hóa và dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân.
Nó là thị trường cuối cùng mà các hoạt động kinh tế được tổ chức ra để
phục vụ nó. Khi phân tích một thị trường người tiêu dùng cần phải biết
khách hàng, các đối tượng, và mục tiêu của người mua, các tổ chức hoạt
động, các đợt mua hàng và những cửa
hàng bán lẻ.
Hành vi của người
mua chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố chủ yếu: Văn hóa, xã hội, cá nhân, và
tâm lý. Tất cả những yếu tố này đều cho ta những căn cứ để biết cách
tiếp cận và phục vụ người mua một cách hiệu quả hơn.
Mức độ cân nhắc khi
mua sắm và số người tham gia mua sắm tăng theo mức độ phức tạp của tình
huống mua sắm. Người làm Marketing phải có những kế hoạch khác nhau cho
bốn kiểu hành vi mua sắm của người tiêu dùng. Hành vi mua sắm phức tạp,
hành vi mua sắm đảm bảo ưng ý, hành vi mua sắm thông thường và hành vi
mua sắm tìm kiếm sự đa dạng. Bốn kiểu hành vi này đều dựa trên cơ sở
mức độ tham gia cao hay thấp của người tiêu dùng vào chuyện mua sắm và
có nhiều hay ít những điểm khác biệt lớn giữa các nhãn hiệu.
Những người làm
Marketing phải nghiên cứu những mong muốn, nhận thức, sở thích và các
hành vi lựa chọn và mua sắm của những khách hàng mục tiêu. Việc nghiên
cứu như vậy sẽ cho ta những gợi ý để phát triển sản phẩm mới, tính năng
của sản phẩm, xác định giá cả, các kênh, nội dung thông tin và những
yếu tố khác trong Marketing mix. Trong chương này ta sẽ tìm hiểu những
động thái mua sắm của người tiêu dùng và trong chương sau sẽ tìm hiểu
động thái mua sắm của những người mua hàng của doanh nghiệp.
1. Mô hình hành vi của người tiêu dùng
Trong những thời gian đầu tiên, những người làm Marketing có thể hiểu
được người tiêu dùng thông qua những kinh nghiệm bán hàng
cho họ hàng ngày. Thế nhưng sự phát triển về quy mô của các công ty
và thị trường đã làm cho nhiều nhà quản trị Marketing không còn điều
kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nữa. Ngày càng nhiều những nhà
quản trị đã phải đưa vào việc nghiên cứu khách hàng để trả lời những
câu hỏi chủ chốt sau đây về mọi thị trường.
Những ai tạo nên thị trường đó? Khách hàng
Thị trường đó mua những gì? Đối tượng
Tại sao thị trường đó mua? Mục tiêu
Những ai tham gia vào việc mua sắm? Tổ chức
Thị trường đó mua sắm như thế nào? Hoạt động
Khi nào thị trường đó mua sắm? Đợt mua hàng
Thị trường đó mua hàng ở đâu? Cửa hàng bán lẻ
Điểm xuất phát để hiểu được người mua là mô hình tác nhân phản ứng được
thể hiện trong H.4.1. Marketing và những tác nhân của môi trường đi vào
ý thức của người mua. Những đặc điểm và quá trình quyết định của người
mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định. Nhiệm vụ của người làm
Marketing là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa
lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua. Ta
sẽ tập trung vào hai câu hỏi sau:
+ Những đặc điểm của người mua, văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý, ảnh hưởng như thế nào đến hành vi mua sắm?
+ Người mua thông qua quyết định mua sắm như thế nào?
H.4.1. Mô hình hành vi của người mua
2. Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi mua sắm
H.4.2 giới thiệu một mô hình chi tiết của những ảnh hưởng đến hành vi
mua sắm của người tiêu dùng. Ta sẽ minh họa những ảnh hưởng đó qua một
người tiêu dùng giả định tên là Linda. Linda 35 tuổi, có gia đình và là
một người quản lý tiêu thụ của một công ty hóa chất hàng đầu. Bà ta hay
phải đi công tác và muốn mua một máy tính xách tay. Bà ta có rất nhiều
nhãn hiệu để lựa chọn: IBM, Apple, Dell, Compaq, v...v. Việc lựa chọn
của bà chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Văn hóa
Nền văn hóa Xã hội
Nhóm tham khảo Cá nhân
Tuổi và giai đoạn của chu kỳ sống Tâm lý
Nhánh văn hóa Gia đình Nghề nghiệp Động cơ Người mua
Hoàn cảnh kinh tế Nhận thức
Lối sống Hiểu biết
Tầng lớp xã hội Vai trò và địa vị Nhân cách và tự ý thức Niềm tin và thái độ
Các yếu tố văn hóa
Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến hành vi của người
tiêu dùng. Ta sẽ xem xét vai trò của nền văn hóa, nhánh văn hóa và tầng
lớp xã hội của người mua.
Nền văn hóa
Nền văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành vi
của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích luỹ được một số những
giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của nó và
những định chế then chốt khác. Một đứa trẻ lớn lên ở Hoa Kỳ đã được
tiếp xúc với những giá trị sau: Thành tựu và thành công, hoạt động,
hiệu suất và tính thực tiễn, tiến bộ, tiện nghi vật chất, chủ nghĩa cá
nhân, tự do, tiện nghi bên ngoài, chủ nghĩa nhân đạo và tính trẻ
trung.
Nhánh văn hóa
Mỗi nền văn hóa đều có những nhánh văn hóa nhỏ hơn tạo nên những đặc
điểm đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho những thành viên của
nó. Các nhánh văn hóa tạo nên những khúc thị trường quan trọng, và
những người làm Marketing thường thiết kế các sản phẩm và chương trình
Marketing theo các nhu cầu của chúng. Hành vi mua sắm của Linda sẽ chịu
ảnh hưởng của những đặc điểm của nhánh văn hóa của bà. Chúng sẽ ảnh
hưởng đến sở thích ăn uống, cách lựa chọn quần áo, cách nghỉ ngơi giải
trí và tham vọng tiến thân của bà. Bà có thể xuất thân từ một nhánh văn
hóa rất coi trọng "người có học thức" và điều này giúp giải thích tại
sao bà quan tâm đến máy tính.
Tầng lớp xã hội
Hầu như tất cả các xã hội loài người đều thể hiện rõ sự phân tầng xã
hội. Sự phân tầng này đôi khi mang hình thức, một hệ thống đẳng cấp
theo đó những thành viên thuộc các đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng và
dạy dỗ để đảm nhiệm những vai trò nhất định. Hay gặp hơn là trường hợp
phân tầng thành các tầng lớp xã hội.
Các tầng lớp xã hội là những bộ
phận tương đối đồng nhất và bền vững trong xã hội, được xếp theo theo
thứ bậc và gồm những thành viên có chung những giá trị, mỗi quan tâm và
hành vi. Những nhà khoa học xã hội đã xác định có bảy tầng lớp xã hội
như trong Bảng 4-1.
|
1.
Tầng lớp thượng
lưu lớp trên (dưới 1%)
|
Tầng lớp thượng lưu lớp trên, sống bằng tài
sản thừa kế và có những
gia đình nổi
tiếng. Họ đóng
góp những khoản tiền lớn cho
công việc từ thiện, tổ chức những buổi vũ hội, có nhiều nhà ở, và gửi con đi
học ở những trường học tốt nhất. Họ là thị trường của đồ kim hoàn, đồ cổ, nhà
ở và những chuyến đi nghỉ. Họ thường hay mua và mặc những đồ thủ cựu, không
quan tâm đến chuyện phô trương. Tuy họ là một nhóm nhỏ, song họ vẫn là một
nhóm tham khảo đối với những
người khác trong
chừng mực là
các quyết định tiêu dùng của họ
được để ý và được các tầng lớp xã hội khác bắt chước.
|
|
2. Tầng
lớp thượng lưu lớp dưới (khoảng 2%)
|
Tầng lớp thượng lưu lớp dưới là những người
có thu nhập cao hay giàu
có nhờ tài
năng xuất chúng
trong nghề nghiệp chuyên môn
hay trong kinh doanh. Họ thường xuất thân từ tầng lớp trung lưu. Họ tích cực
tham gia các công việc xã hội và của thành phố và tìm mua những thứ chứng tỏ
địa vị cho bản thân mình và cho con cái, như những ngôi nhà đắt tiền, trường
học tốt, thuyền buồm, hồ bơi và ôtô. Họ gồm những người giàu mới phát và cách
tiêu dùng của họ được tính toán để gây ấn tượng đối với những người ở tầng
lớp thấp hơn họ. Ham muốn của những người thượng
lưu lớp dưới là được chấp nhận vào lớp
trên, một địa vị mà có lẽ con cái họ có nhiều khả năng đặt được hơn bản thân
họ.
|
|
3. Tầng lớp
trung lưu lớp trên (12%)
|
Những người trung
lưu lớp trên
không có địa
vị của gia đình hay giàu có gì đặc biệt. Họ chủ
yếu quan tâm đến con đường danh vọng.
Họ đã có
được những cương
vị như những người chuyên
nghiệp, nhưng người kinh doanh độc lập và cán bộ quản trị của công ty. Họ tin
tưởng vào học vấn và muốn con cái họ phát triển những kỹ năng chuyên
môn hay quản trị để chúng
không bị tụt xuống
tầng lớp thấp hơn. Những thành
viên của tầng lớp này thích nói về những
ý tưởng và
"trình độ văn
hóa cao" .
Họ tích cực tham gia và có ý thức cao về trách
nhiệm công dân. Họ là thị trường tốt cho nhà ở, quần áo đẹp, đồ gỗ và thiết
bị tốt. Họ tìm cách để có được một ngôi nhà lịch sự để tiếp đãi bạn bè và
thân chủ.
|
|
4.
Tầng lớp trung
lưu (32%)
|
Tầng lớp trung lưu là những người công nhân cổ trắng và xanh có
mức lương trung
bình, sống ở khu
khá hơn của thành phố và cố gắng làm những việc
đúng đắn. Họ hay mua những sản phẩm phổ biến "để theo kịp xu thế".
Hai mươi lăm phần trăm có xe ôtô ngoại, đồng thời phần lớn đều quan tâm đến
chuyện thời trang, tìm kiếm "một trong những nhãn hiệu tốt hơn".
Một cuộc sống tốt hơn có nghĩa là "một ngôi nhà đẹp hơn" với
"láng giềng tốt ở khu vực tốt hơn của thành phố" có trường học tốt.
Tầng lớp trung lưu tin tưởng là nên chi nhiều tiền hơn cho con cái họ có được
"những kinh nghiệm đáng giá" và hướng chúng vào học đại học.
|
|
5. Tầng
lớp công nhân (38%)
|
Tầng lớp công nhân gồm những công nhân cổ xanh có mức lương trung bình
và những người sống theo "lối sống của tầng lớp
công nhân", bất kể
thu nhập, trình
độ văn hóa hay công việc. Tầng lớp công nhân phụ
thuộc nhiều vào họ hàng về kinh
tế và sự
hỗ trợ về
tình cảm, về
những lời khuyên về cơ hội việc
làm, về những ý kiến tham gia về chuyện mua sắm và về sự hỗ trợ mỗi khi gặp
khó khăn. Đối với tầng lớp công nhân đi nghỉ có nghĩa là "ở lại thành
phố" và "đi xa" thì có nghĩa là đi đến hồ nước hay nơi nghỉ
ngơi không xa quá hai giờ đi đường. Tầng lớp công nhân vẫn duy trì sự phân
chia rõ ràng vai trò của giới tính và rập khuôn nhau.
Sở thích về
ôtô là những
chiếc xe có
kích thước tiêu chuẩn và lớn, không thích những xe nhỏ gọn nội địa
cũng như ngoại nhập.
|
|
6. Tầng lớp
hạ lưu lớp trên (9%)
|
Tầng lớp hạ lưu lớp trên là những người đi làm, không sung túc, mặc
dù mức sống
hơi cao hơn
mức nghèo khổ
một chút. Họ làm
những công việc
lao động phổ
thông và hưởng lương rất thấp,
mặc dù họ luôn phấn đấu để vươn lên
tầng lớp cao
hơn. Thông thường
tầng lớp hạ
lưu lớp trên không
được học hành
đầy đủ. Mặc
dù họ đã
ở gần mức nghèo khổ về mặt tài
chính, họ vấn thu xếp để tỏ ra mình có cuộc sống ngăn nắp và sạch sẽ.
|
|
7. Tầng lớp
hạ lưu lớp dưới (7%)
|
Tầng lớp hạ lưu lớp dưới là những người hưởng trợ cấp, bị nghèo túng
rõ ràng và thường không có việc làm hay có "những việc
làm bẩn thỉu".
Một số không
quan tâm đến chuyện tìm kiếm một việc làm lâu dài và
phần lớn đều phụ thuộc vào tiền trợ cấp xã hội hay tiền từ thiện. Nhà cửa,
quần áo và đồ đạc của họ "bẩn thỉu" rách nát và "tàn tạ".
|
1. Tầng lớp thượng lưu lớp trên (dưới 1%) Tầng lớp thượng lưu lớp
trên, sống bằng tài sản thừa kế và có những gia đình nổi tiếng. Họ đóng
góp những khoản tiền lớn cho công việc từ thiện, tổ chức những buổi vũ
hội, có nhiều nhà ở, và gửi con đi học ở những trường học tốt nhất. Họ
là thị trường của đồ kim hoàn, đồ cổ, nhà ở và những chuyến đi nghỉ. Họ
thường hay mua và mặc những đồ thủ cựu, không quan tâm đến chuyện phô
trương. Tuy họ là một nhóm nhỏ, song họ vẫn là một nhóm tham khảo đối
với những người khác trong chừng mực là các quyết định tiêu dùng của họ
được để ý và được các tầng lớp xã hội khác bắt chước.
2. Tầng lớp thượng lưu lớp dưới (khoảng 2%) Tầng lớp thượng lưu
lớp dưới là những người có thu nhập cao hay giàu có nhờ tài năng xuất
chúng trong nghề nghiệp chuyên môn hay trong kinh doanh. Họ thường xuất
thân từ tầng lớp trung lưu. Họ tích cực tham gia các công việc xã hội
và của thành phố và tìm mua những thứ chứng tỏ địa vị cho bản thân mình
và cho con cái, như những ngôi nhà đắt tiền, trường học tốt, thuyền
buồm, hồ bơi và ôtô. Họ gồm những người giàu mới phát và cách tiêu dùng
của họ được tính toán để gây ấn tượng đối với những người ở tầng lớp
thấp hơn họ. Ham muốn của những người thượng lưu lớp dưới là được chấp
nhận vào lớp trên, một địa vị
mà có lẽ con cái họ có nhiều khả năng đặt được hơn bản thân họ.
3. Tầng lớp trung lưu lớp trên (12%) Những người trung lưu lớp
trên không có địa vị của gia đình hay giàu có gì đặc biệt. Họ chủ yếu
quan tâm đến con đường danh vọng. Họ đã có được những cương vị như
những người chuyên nghiệp, nhưng người kinh doanh độc lập và cán bộ
quản trị của công ty. Họ tin tưởng vào học vấn và muốn con cái họ phát
triển những kỹ năng chuyên môn hay quản trị để chúng không bị tụt xuống
tầng lớp thấp hơn. Những thành viên của tầng lớp này thích nói về những
ý tưởng và "trình độ văn hóa cao" . Họ tích cực tham gia và có ý thức
cao về trách nhiệm công dân. Họ là thị trường tốt cho nhà ở, quần áo
đẹp, đồ gỗ và thiết bị tốt. Họ tìm cách để có được một ngôi nhà lịch sự
để tiếp đãi bạn bè và thân chủ.
4. Tầng lớp trung lưu (32%) Tầng lớp trung lưu là những người
công nhân cổ trắng và xanh có mức lương trung bình, sống ở khu khá hơn
của thành phố và cố gắng làm những việc đúng đắn. Họ hay
mua những sản phẩm phổ biến "để theo kịp xu thế". Hai mươi lăm phần
trăm có xe ôtô ngoại, đồng thời phần lớn đều quan tâm đến chuyện thời
trang, tìm kiếm "một trong những nhãn hiệu tốt hơn". Một cuộc sống tốt
hơn có nghĩa là "một ngôi nhà đẹp hơn" với "láng giềng tốt ở khu vực
tốt hơn của thành phố" có trường học tốt. Tầng lớp trung lưu tin tưởng
là nên chi nhiều tiền hơn cho con cái họ có được "những kinh nghiệm
đáng giá" và hướng chúng vào học đại học.
5. Tầng lớp công nhân (38%) Tầng lớp công nhân gồm những
công nhân cổ xanh có mức lương trung bình và những người sống theo "lối
sống của tầng lớp công nhân", bất kể thu nhập, trình độ văn hóa hay
công việc. Tầng lớp công nhân phụ thuộc nhiều vào họ hàng về kinh tế và
sự hỗ trợ về tình cảm, về những lời khuyên về cơ hội việc làm, về những
ý kiến tham gia về chuyện mua sắm và về sự hỗ trợ mỗi khi gặp khó khăn.
Đối với tầng lớp công nhân đi nghỉ có nghĩa là "ở lại thành phố" và "đi
xa" thì có nghĩa là đi đến hồ nước hay nơi nghỉ ngơi không xa quá hai
giờ đi đường. Tầng lớp công nhân vẫn duy trì sự phân chia rõ ràng vai
trò của giới tính và rập khuôn nhau. Sở thích về ôtô là những chiếc xe
có kích thước tiêu chuẩn và lớn, không thích những xe nhỏ gọn nội địa
cũng như ngoại nhập.
6. Tầng lớp hạ lưu lớp trên (9%) Tầng lớp hạ lưu lớp trên là những
người đi làm, không sung túc, mặc dù mức sống hơi cao hơn mức nghèo khổ
một chút. Họ làm những công việc lao động phổ thông và hưởng lương rất
thấp, mặc dù họ luôn phấn đấu để vươn lên tầng lớp cao hơn. Thông
thường tầng lớp hạ lưu lớp trên không được học hành đầy đủ. Mặc dù họ
đã ở gần mức nghèo khổ về mặt tài chính, họ vấn thu xếp để tỏ ra mình
có cuộc sống ngăn nắp và sạch sẽ.
7. Tầng lớp hạ lưu lớp dưới (7%) Tầng lớp hạ lưu lớp dưới là
những người hưởng trợ cấp, bị nghèo túng rõ ràng và thường không có
việc làm hay có "những việc làm bẩn thỉu". Một số không quan tâm đến
chuyện tìm kiếm một việc làm lâu dài và phần lớn đều phụ thuộc vào tiền
trợ cấp xã hội hay tiền từ thiện. Nhà cửa, quần áo và đồ đạc của họ
"bẩn thỉu" rách nát và "tàn tạ".
Các tầng lớp xã hội có một số đặc điểm. Thứ nhất là những người thuộc
mỗi tầng lớp xã hội đều có khuynh hướng hành động giống nhau hơn so với
những người thuộc hai tầng lớp xã hội khác. Thứ hai là con người được
xem là có địa vị thấp hay cao tuỳ theo tầng lớp xã hội của họ. Thứ ba
là tầng lớp xã hội của một người được xác định theo một số biến, như
nghề nghiệp, thu nhập, của cải, học vấn, và định hướng giá trị chứ
không phải chỉ theo một biến. Thứ tư là, các cá nhân có thể di chuyển
từ tầng lớp xã hội này sang tầng lớp xã hội khác, lên hoặc xuống, trong
đời mình. Mức độ cơ động này khác nhau tuỳ theo mức độ cứng nhắc của sự
phân tầng xã hội trong một xã hội nhất định.
Linda xuất thân từ
tầng lớp trung lưu. Gia đình bà coi trọng học vấn và mong muốn trở
thành những người chuyên nghiệp, như nhà quản trị, luật sư, kế toán
viên, hay thầy thuốc. Kết quả là Linda đã có trình độ khá về viết
lách và toán học và không phải e ngại gì với máy tính như một số
người xuất thân từ những tầng lớp có trình độ học vấn thấp hơn.
Những yếu tố xã hội
Hành vi của người tiêu dùng cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố xã hội
như các nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của địa vị xã hội.
Nhóm tham khảo
Nhiều nhóm có ảnh hưởng đến hành vi của một người. Nhóm tham khảo của
một người bao gồm những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp (mặt đối mặt) hay
gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó. Những nhóm có ảnh hưởng
trực tiếp đến một người gọi là những nhóm thành viên. Đó là những nhóm
mà người đó tham gia và có tác động qua lại. Có những nhóm là nhóm sơ
cấp, như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng, và đồng nghiệp, mà
người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên. Các nhóm sơ cấp thường là
có tính chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp
thường xuyên hơn.
Những người làm
Marketing cố gắng nhận diện những nhóm tham khảo của các khách hàng mục
tiêu của mình. Người ta chịu ảnh hưởng khá mạnh của các nhóm tham khảo
ít nhất là theo ba cách. Các nhóm tham khảo tạo điều kiện để một cá
nhân tiếp xúc với những hành vi và lối sống mới. Những nhóm này cũng
ảnh hưởng đến thái đội và tự ý niệm của mội người, bởi vì người đó
thường muốn hòa nhập vào đó. Những nhóm này tạo ra những áp lực buộc
phải tuân theo những chuẩn mực chung và có thể tác động đến cách lựa
chọn sản phẩm và nhãn hiệu trong thực tế
của người đó. Ảnh hưởng của nhóm mạnh đối với những sản phẩm mà những
người được người mua kính trọng để nhìn thấy. Sự quan tâm của Linda đến
một máy tính xác tay và thái độ của bà đối với các nhãn hiệu khác nhau
sẽ chịu ảnh hưởng mạnh của một số người trong nhóm thanh niên của bà.
Thái độ của những người cộng sự của bà và việc lựa chọn nhãn hiệu của
họ sẽ ảnh hưởng đến bà. Nhóm đó càng gần gũi, quá trình trao đổi thông
tin trong nhóm càng có hiệu quả, và người đó càng quý
trọng nhóm đó thì nhóm đó càng có tác dụng định hình cách lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu của người đó.
Gia đình
Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo quan trọng có ảnh hưởng
lớn nhất. Ta có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người mua.
Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó. Do từ bố mẹ mà một người có
được một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế và mộtý thức
về tham vọng cá nhân, lòng tự trọng và tình yêu. Ngay cả khi người mua
không còn quan hệ nhiều với bố mẹ, thì ảnh hưởng của bố mẹ đối với hành
vi của người mua vẫn có thể rất lớn. ở những nước mà bố mẹ
sống chung với con cái đã trưởng thành thì ảnh hưởng của họ có thể là cơ bản.
Một ảnh hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình
riêng của người đó, tức là vợ chồng và con cái. Gia đình là một tổ chức
mua hàng tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội và nó đã được nghiên
cứu rất nhiều năm. Những người làm Marketing quan tâm đến vai trò và
ảnh hưởng tương đối của chồng, vợ và con cái đến việc mua sắm rất nhiều
loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Vấn đề này sẽ thay đổi rất nhiều
đối với các nước và các tầng lớp xã hội khác nhau. Người làm
Marketing bao giờ cũng phải nghiên cứu những dạng mẫu đặc thù trong từng thị trường mục tiêu cụ thể.
Ở Hoa Kỳ mức độ can
thiệp của chồng, vợ thay đổi nhiều tuỳ theo loại sản phẩm. Theo truyền
thống người vợ thường là người mua sắm chính của gia đình, nhất là đối
với thực phẩm, giặt ủi và quần áo. Điều này đang thay đổi khi ngày càng
có nhiều bà vợ đi làm và người chồng tham gia nhiều hơn vào chuyện mua
sắm của gia đình. Những người làm Marketing những hàng hóa thông thường
sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng phụ nữ là người chủ yếu hay duy nhất mua sản
phẩm của mình.
Trong trường hợp
những sản phẩm và dịch vụ đắt tiền, vợ chồng cùng bàn bạc để thông qua
quyết định chung. Người làm Marketing phải xác định xem thành viên nào
thường có ảnh hưởng lớn hơn đến việc lựa chọn những sản phẩm khác nhau.
Thông thường đó là vấn đề ai có quyền lực hay thông thạo hơn. Sau đây là những dạng mẫu sản phẩm điển hình:
+ Chồng giữ vai trò chính: Bảo hiểm nhân thọ, ôtô, máy thu hình
+ Vợ giữ vai trò chính: máy giặt, thảm, đồ gỗ, đồ dùng nhà bếp
+ Vợ chồng giữ vai trò ngang nhau: đi nghỉ, nhà ở, giải trí bên ngoài
Trong trường hợp mua máy tính xách tay của Linda, chồng bà có thể đóng
vai trò một người có ảnh hưởng. Ông ta có thể chủ động nêu ra ý kiến.
Ông ta có thể góp ý về nhãn hiệu và tính năng. ảnh hưởng của ông ta sẽ
phụ thuộc vào chỗ ý kiến của ông kiên quyết đến mức nào và Linda đánh
giá ý kiến của ông ra sao.
Vai trò và địa vị
Trong đời mình một người tham gia vào rất nhiều nhóm - gia đình, các
câu lạc bộ, các tổ chức. Vị trí của người dó trong mỗi nhóm có thể xác
định căn cứ vào vai trò và địa vị của họ. Với bố mẹ mình Linda giữ vai
trò người con gái, trong gia đình mình bà là vợ, ở công ty bà là người
quản lý tiêu thụ. Một vai trò bao gồm những hoạt động mà một người sẽ
phải tiến hành. Mỗi vai trò của Linda đều ảnh hưởng đến một số hành vi
mua sắm của bà.
Mỗi vai trò đều gắn
với một địa vị. Thẩm phán Tòa án tối cao có địa vị cao hơn một người
quản lý tiêu thụ, và người quản lý tiêu thụ có địa vị cao hơn một thư
ký văn phòng. Người ta lựa chọn những sản phẩm thể hiện được vai trò và
địa vị của mình trong xã hội. Chẳng hạn như các chủ tịch công ty thường
đi xe Mercedes, mặc những bộ đồ đắt tiền và uống Chivas Regal Scotch.
Những người làm Marketing đều biết rõ khả năng thể hiện địa vị xã hội
của sản phẩm và nhãn hiệu. Tuy nhiên, biểu
tượng của địa vị thay đổi theo các tầng lớp xã hội và theo cả vùng địa lý nữa.
Những yếu tố cá nhân
Những quyết định của người mua cũng chịu ảnh hưởng của những đặc điểm
cá nhân, nổi bật nhất là tuổi tác và giai đoạn chu kỳ sống của người
mua, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, nhân cách và tự ý niệm
của người đó.
Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống
Người ta mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình.
Họ ăn thức ăn cho trẻ sơ sinh trong những năm đầu tiên, phần lớn thực
phẩm trong nhưng năm lớn lên và trưởng thành và những thức ăn kiêng cữ
trong những năm cuối đời. Thị hiếu của người ta về quần áo, đồ gỗ và
cách giải trí cũng tuỳ theo tuổi tác.
Việc tiêu dùng cũng được định hình theo giai đoạn của chu kỳ sống của
gia đình. Những người làm Marketing thường hay chọn các nhóm của chu kỳ
sống làm thị trường mục tiêu của mình.
Một số công trình mới đây đã xác định các giai đoạn tâm lý của chu kỳ sống.
Những người lớn tuổi đã trải qua những thời kỳ hay những biến đổi nhất
định trong quá trình sống. Người làm Marketing theo dõi rất sát những
hoàn cảnh sống luôn thay đổi, ly hôn, góa bụa, tái giá, và tác động của
những thay đổi đó đến hành vi tiêu dùng.
Nghề nghiệp
Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng của
họ. Người công nhân cổ xanh sẽ mua quần áo lao động, giày đi làm, bữa
ăn trưa đóng hộp và trò chơi giải trí hai người. Chủ tịch công ty sẽ
mua quần áo đắt tiền, đi du lịch bằng đường hàng không, tham gia các
câu lạc bộ và thuyền buồm lớn. Người làm Marketing cố gắng xác định
những nhóm nghề nghiệp có quan tâm trên mức trung bình đến các sản phẩm
và dịch vụ của mình. Công ty có thể thậm chí chuyên môn hóa sản phẩm
của mình cho những nhóm nghề nghiệp nhất định. Chẳng hạn như các công
ty phần mềm máy tính sẽ thiết kế phần mềm máy tính khác nhau cho những
người quản lí nhãn hiệu, kỹ sư, luật sư và bác sĩ.
Hoàn cảnh kinh tế
Việc lựa chọn sản phẩm chịu tác động rất lớn từ hoàn cảnh kinh tế của
người đó. Hoàn cảnh kinh tế của người ta gồm thu nhập có thể chi tiêu
được của họ (mức thu nhập, mức ổn định và cách sắp xếp thời gian), tiền
tiết kiệm và tài sản (bao gồm cả tỷ lệ phần trăm tài sản lưu động), nợ,
khả năng vay mượn, thái độ đối với việc chi tiêu và tiết kiệm. Linda có
thể mua một máy tính xách tay và nếu bà ta có đủ thu
nhập được chi, tiền tiết kiệm hay khả năng mượn và thích tiêu tiền hơn là tiết kiệm.
Những người làm Marketing những hàng hóa nhạy cảm với thu nhập phải
thường xuyên theo dõi những xu hướng trong thu nhập cá nhân, số tiền
tiết kiệm và lãi suất.
Nếu các chỉ số kinh tế có sự suy thoái tạm thời, thì những người làm
Marketing có thể tiến hành những biện pháp thiết kế lại, xác định lại
vị trí và định giá lại cho sản phẩm của mình để chúng tiếp tục đảm bảo
giá trị dành cho các khác hàng mục tiêu.
Lối sống
Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và
cùng nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Ví dụ,
Linda có thể lựa chọn cách sống "thủ cựu" được thể hiện trong cách ăn
mặc bảo thủ, dành nhiều thời gian cho gia đình và đóng góp cho nhà thờ
của mình. Hay bà có thể chọn lối sống "tân tiến" có đặc điểm là làm
việc thêm giờ cho những đề án quan trọng và tham gia hăng hái khi có
dịp đi du lịch và chơi thể thao.
Lối sống của một
người là một cách sống trên thế giới của họ được thể hiện ra trong hoạt
động, sự quan tâm và ý kiến của người đó. Lối sống miêu tả sinh động
toàn diện một con người trong quan hệ với môi trường của mình. Những
người làm Marketing sẽ tìm kiếm những mối quan hệ giữa sản phẩm của
mình và các nhóm theo lối sống. Một hãng sản xuất máy tính có
thể phát hiện thấy rằng phần lớn những người mua máy tính là
những người có khuynh hướng tân tiến. Người làm Marketing có thể theo
đó mà định hướng hàng hóa rõ ràng hơn vào lối sống tân tiến. Rồi thì
những người soạn thảo quảng cáo cũng có thể phác họa những biểu tượng
có sức hấp dẫn cho những người tân tiến.