Thứ ba, 12/05/2009, 20:12 GMT+7
Xây dựng tầng lớp trí thức
Xây dựng tầng lớp trí thức trên nền tảng giáo dục 1. Vấn đề trí thức nói cho cùng là vấn đề giáo dục : Khi góp ý kiến về chính sách trí thức cách đây không lâu tôi có đề nghị không nên đi sâu phân tích các yếu kém khuyết điểm của trí thức đang làm hạn chế sự đóng góp của họ vào công cuộc chấn hưng đất nước, mà nên suy nghĩ xem vì đâu dân tộc VN vốn thông minh không kém nhiều dân tộc khác, mà chí khí kiên cường càng không nhường ai, lại chưa có được một tầng lớp trí thức xứng đáng?
Xay dung tang lop tri t..

 

Thời thế tạo anh hung thì cũng thời thế, cơ chế tạo ra phẩm chất người tri thức. Nói rõ hơn là hoàn cảnh chính trị xã hội, là bản lĩnh, tài năng các nhà lãnh đạo quốc gia, và một phần chính yếu, là môi trường giáo dục đương thời. Sau nhiều năm Phần Lan nổi lên với những thành tựu kinh tế, khoa học, công nghệ làm cả thế giới khâm phục, người ta phát hiện ra cái gốc của sự thịnh vượng ấy là giáo dục. Ba phần tư thế kỷ qua, nước Mỹ đã chiếm vị trí số một trên hầu hết mọi lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt. Nếu nói trí thức là nói tài năng thì không đâu tài năng nở rộ như ở Mỹ. Nhiều người chúng ta bất bình, phẫn nộ chính đáng với một số chính sách nước lớn có khi quá tàn bạo của giới cầm quyền Mỹ, song vẫn chưa bao giờ hết ngưỡng mộ trí tuệ và tài năng của trí thức Mỹ mà những mầm mống thịnh vượng đã nảy nở từ những đại học đầu tiên khi Mỹ mới lập quốc. Đọc thư của Tổng thống Pháp gửi các nhà giáo Pháp, đọc bài diễn văn nhậm chức của bà Chủ tịch ĐH Harvard, càng thấy rõ vấn đề trí thức nói cho cùng là vấn đề giáo dục. Nước Pháp muốn khôi phục truyền thống văn hoá rạng rỡ của mình từ Thế kỷ Ánh sáng, nước Mỹ muốn tiếp tục dẫn đầu trong thế kỷ văn minh trí tuệ, đều thấy cần dựa vào trụ cột giáo dục. Mà trong giáo dục thì quan trọng trước hết là tư duy cơ bản về giáo dục, tức là triết lý giáo dục, đường lối giáo dục.

2. Về Triết lý giáo dục

Nhìn lại lịch sử hình thành lớp trí thức VN qua các thế hệ, tôi vẫn băn khoăn một câu hỏi lớn: tại sao trong hơn 80 năm qua, hình như chưa có thế hệ trí thức nào vượt qua được về tài năng, trí tuệ và cả phẩm chất nhân cách, thế hệ trí thức những năm 30-45 thế kỷ trước - thời kỳ Tự lực Văn đoàn, trào lưu Thơ mới, có các nhạc sĩ Văn Cao, Đặng Thế Phong, có các nhà khoa học, giáo dục hiện đại Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đức Thảo, có những nhà hoạt động chính trị Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh…Hầu hết những trí thức này đều học trường Pháp ra, mà sao tinh thần dân tộc rất cao và năm 1945 tuyệt đại bộ phận họ đều đi theo cách mạng để chống lại thực dân Pháp. Điều đó tựa hồ mâu thuẫn với quan niệm phổ biến xưa nay là nhà trường thực dân chỉ cốt đào tạo ra những người làm tay sai cho thực dân. Trong khi đó, các thế hệ trí thức được đào tạo sau này ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ một cách bài bản, lớn lên trong nền giáo dục thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp, hằng ngày được gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, ghét bóc lột, xả thân vì dân vì nước… mà sao có vẻ như phẩm chất không được như ta kỳ vọng. Dường như có cái gì không thật, có cái gì chưa ổn lắm, cho nên gặp hoàn cảnh không thuận lợi thì bộc lộ nhiều nhược điểm. Chúng ta có biết bao tiến sĩ, giáo sư  và gần đây rộ lên cả mấy tá viện sĩ (chức danh này chưa có ở VN, nhưng nếu muốn trưng ra thì cả nước hiện nay cũng có thể trưng ra cả nghìn viện sĩ kiểu này chứ không ít), rồi lại có cả những “bộ óc vĩ đại thế kỷ 21”, nhiều nhân vật trí thức xuất chúng đến nỗi đang có kế hoạch phải dành 25 hecta đất vào thời buổi đất quý hơn vàng, để xây một Văn Miếu hiện đại mới đủ chỗ vinh danh bấy nhiêu bậc đại trí. Thế nhưng có ai dám chắc cái gia tài trí thức lớn ấy sau này sẽ được con cháu hoan nghênh khi đất nước đến hồi hưng thịnh? Đó là cái nghịch lý cần phân tích và lý giải khi bàn về giáo dục, văn hoá Pháp mà thế hệ trí thức tiền bối 30-45 đã được hưởng thật sự là một nền giáo dục tiên tiến thời đó. Cái phần thực dân trong nền giáo dục ấy chỉ là cái vỏ ngoài do bọn thực dân áp đặt ở thuộc địa mà cũng chỉ có tác dụng rất hạn chế, còn cái phần nhân văn, cái phần văn hoá cơ bản, cái phần thật sự là tinh tuý trong triết lý giáo dục của nó thời đó thì ai tiếp thu được đều tốt cho họ, không cứ là người Pháp, cho nước Pháp. Có lẽ chính vì nhìn thấy điều ấy mà Phan Chu Trinh đã sang suốt đề ra: hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Giờ đây khi mà văn hoá, giáo dục đã lệch pha quá xa với kinh tế, đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về đường lối, triết lý giáo dục. Không thể máy móc vơ đũa cả nắm, nhưng có một sự thật là dường như phần lớn những cán bộ được đào tạo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đều thiếu căn bản về văn hoá phổ quát. Tư duy của họ chỉ phát triển theo một đường ray mà hễ ai trật ra là nguy hiểm. Cho nên trừ những trường hợp hãn hữu, họ thường chỉ là những chuyên viên kỹ thuật được trang bị một số vốn kiến thức kỹ thuật, chuyên môn hẹp nào đó, ở thời đó, và cũng rất mau lạc hậu, nhưng thiếu một nhãn quan rộng, thiếu một tầm nhìn ra ngoài ngành nghề hẹp của mình, cho nên bị hạn chế ngay trong việc phát triển chuyên môn, và càng bị hạn chế đứng trước những vấn đề xã hội, văn hoá không thuộc phạm vi chuyên môn hẹp của mình, chỉ lo cho mình, ít khả năng và cũng không thích thú hợp tác với bạn bè đồng nghiệp. Dễ bị lâm vào thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hoà nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức VN.

Công thức số 1 để có kết quả duy nhất theo mong muốn chỉ có thể là

Chất lượng giáo dục = người lãnh đạo + cơ chế


Công thức “Người lãnh đạo + cơ chế quản lý” cho ra kết quả chất lượng giáo dục có vẻ là chuyện “xưa như trái đất’, nhưng lại vẫn “nóng hổi tính thời sự”, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng GD hiện nay, ngành GD đang tìm kiếm những giải pháp chiến lược. GS Văn Như Cương - Hiệu trưởng Trường phổ thông dân lập Lương Thế Vinh nghĩ về giải pháp này, từ thực tiễn nhà trường.

"Thương hiệu" còn quan trọng hơn "danh hiệu"

5 năm liền Trường PTDL Lương Thế Vinh có số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông 100%, được xếp hạng ở tốp đầu những trường có tỷ lệ học sinh đỗ ĐH cao nhất Hà Nội.

Tuy nhiên, những học sinh trường chúng tôi vốn có "đầu vào" cao. Đó là một yếu tố thuận. "Đầu vào" cao mà đỗ 100% thì tuy rất mừng, nhưng đáng tự hào hơn là những trường tuyển sinh phải "lấy vét", nhưng học sinh đỗ tốt nghiệp 50% (thực chất). Đó mới là những trường xứng đáng được khen thưởng, vì quan trọng là toàn bộ quá trình tổ chức dạy- học dẫn tới “đầu ra” thực chất.

Đã có một thời, trường nào cũng chỉ mải miết chạy theo danh hiệu, để đạt trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến… Bây giờ, để thực sự phát triển bền vững, các trường không chỉ cần đạt danh hiệu, mà quan trọng là thương hiệu. Trong thời kỳ kinh tế mở này, thương hiệu còn quan trọng hơn danh hiệu.

Muốn đạt tới thương hiệu, mỗi loại hình trường, mỗi trường có cách làm riêng của mình. Cái gì trường công lập không làm được thì trường ngoài công lập chúng tôi có thể làm được. Sự khác biệt đó được quyết định bởi cơ chế: Một bên cơ chế quản lý cứng nhắc, khép kín, với một bên là cơ chế quản lý mềm dẻo, linh hoạt.

Bệnh của GD bấy lâu nay là bệnh thành tích, là “học giả- dạy giả”, vì thế phương châm điều hành của trường tôi là phải “dạy thật - học thật”. Thầy giáo muốn dạy và dạy thật với khả năng của mình. Học trò muốn học và học thật với khả năng của mình. Đó chính là con đường chấn hưng giáo dục đúng đắn nhất.
 
Cơ chế "mềm" giải phóng năng lực sáng tạo

Ưu thế của cơ chế mềm dẻo đó tạo điều kiện cho các trường ngoài công lập biết khai thác tiềm năng, giải phóng năng lực sáng tạo của thầy, trò. Hiệu trưởng được quyền tự chủ điều hành mọi việc miễn sao đáp ứng đầy đủ quy định của Bộ GD- ĐT về số lượng, thời lượng môn học...Hiển nhiên cá nhân hiệu trưởng phải là người chịu trách nhiệm cao nhất với hiệu quả đào tạo của nhà trường.

Bởi vì đây là trường ngoài công lập, không phải do nhà nước đầu tư, nên toàn bộ hoạt động GD phải tính toán thế nào để mang lại hiệu quả. Điều này hiệu trưởng trường công lập không dễ dàng có. Hiệu trưởng trường công lập điều hành GD bằng tiền của của nhà nước, lại chưa có một thiết chế ràng buộc, kiểm soát nên không thể tự chủ vì như thế dễ dẫn tới tham nhũng. Nhưng họ cũng không phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình vì họ làm việc theo nhiệm kỳ, nếu hậu quả có xảy ra thì họ đã hết nhiệm kỳ rồi.

Mặt khác, cơ chế quản lý GD công lập có những quy định cứng nhắc, bất cập, hạn chế năng lực hiệu trưởng. Họ không có quyền tuyển chọn giáo viên, hoặc đuổi một học sinh không đạt yêu cầu, mà tất cả, nhất cử nhất động đều phải xin ý kiến của sở GD, cơ quan quản lý trực thuộc. Trong khi mối quan hệ giữa giáo viên, phụ huynh học sinh với trường ngoài công lập chỉ là một bản hợp đồng dân sự. Hai bên chấp thuận được yêu cầu thì ký kết và có thể chấm dứt hợp đồng một cách tự chủ. Giáo viên và học sinh cũng luôn phải cố gắng đáp ứng yêu cầu của nhà trường, nếu không cũng dễ dàng bị thải loại ngay.

Cơ chế mềm này có ưu thế cả với những chủ trương lớn của ngành. Cụ thể: Các trường công lập khi triển khai chương trình phân ban rất vất vả, vì cách quản lý giáo viên khép kín, cứng nhắc, trái lại, ở trường ngoài công lập chúng tôi rất ung dung.

"Chữ tâm, chữ tầm" và bộ máy tinh giản

Trường tôi có quy mô học sinh khá lớn- 3500 em của 105 lớp. Với lượng học sinh đó, ở trường công lập phải có một bộ máy cồng kềnh. Nhưng chúng tôi xây dựng bộ máy quản lý nhà trường tinh giản, với số lượng người tối thiểu nhất để tiết kiệm chi phí, do đó có thể giảm được học phí cho học sinh. Trường có một ban giám hiệu gồm hiệu trưởng, một hiệu phó, ba trợ lý về giáo vụ, một trợ lý về đoàn thanh niên, một số trợ lý khác...tổng cộng khoảng 30 người, điều hành 300 giáo viên (trong đó, 20% là giáo viên cơ hữu, còn lại là giáo viên thỉnh giảng).

Chúng tôi không có họp hành, cũng không bao giờ có chuyện kiểm tra giáo án. Tất cả chỉ căn cứ vào phản ánh của học sinh về chất lượng giờ giảng của thầy, cô: Học sinh có tiếp thu được không, có thấy say mê môn học không? Như vậy giảm được rất nhiều việc vô ích, hình thức, vừa tiết kiệm được chi phí, vừa khiến cả thầy, cả trò tập trung vào trọng tâm: Dạy thật- học thật.

Muốn lãnh đạo nhà trường thành công, hiệu trưởng - người lãnh đạo GD cơ sở phải hiểu sâu sắc công việc của mình, công việc của thầy, cô giáo, của học sinh. Phải tâm huyết với GD và xác định được mục tiêu của trường mình là gì. Và phải trong sạch, nghiêm minh, công bằng. Người ta đã tranh luận nhiều lần về vấn đề thương mại hóa GD. Tôi cho rằng, cốt lõi để GD làm tốt là ở "Chữ tâm, chữ tầm" của hiệu trưởng, nói chung đó cần phải là người “muốn làm GD” thực sự.

bantinsom.com ( theo saga )