Thứ ba, 12/05/2009, 10:22 GMT+7
Kích cầu thông qua tái cấu trúc kinh tế
Sức mạnh của một thị trường tùy thuộc vào số người bán, người mua, số lượng hàng hóa dịch vụ tham gia cuộc chơi, đó là phần lượng; và vào mức độ dễ dàng để người bán người mua đến được với nhau, và mức độ thuận lợi và hào hứng của cuộc chơi để ngày càng có nhiều người đến chơi với mình, đó là phần chất.
Kich cau thong qua tai cau..

 

Trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, tìm người để chơi với mình không khó (dĩ nhiên mình cũng phải có cái người ta cần, với giá cả chất lượng thích hợp), mà thử thách lớn hơn là chúng ta có tạo ra được một sân chơi tiện, lợi, hấp dẫn để lôi kéo được nhiều người vào một cuộc chơi sôi động hay không. Đó là phần chất của một nền kinh tế, là yếu tố chính để kích cầu, tạo cung, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế bền vững.

Hướng nội

Kích cầu là một sách lược kích thích nhu cầu của người mua và tạo mọi điều kiện để cung dễ gặp cầu, nhờ đó hàng hóa được lưu thông nhanh hơn. Cầu tăng sẽ tăng cung; cung tăng cũng sẽ tạo thêm cầu, cầu mới tạo nên cung mới. Dòng chảy của đồng tiền trên thị trường sẽ rộng mở; dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng đi kèm cũng sẽ tăng trưởng theo. Từ đó công ăn việc làm gia tăng, thu nhập và đời sống người dân được nâng cao và tạo nên một vòng xoắn ốc vươn lên cho nền kinh tế.

Cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay có một đặc điểm: cả thế giới đang bị ảnh hưởng trầm trọng, yếu đi, lượng giao dịch liên quốc gia đang bị giảm nghiêm trọng, có muốn xuất nhiều hơn cũng khó tìm ai để mua. Đến đầu năm nay, xuất khẩu của ta chiếm khoảng 60% của GDP. Với dự đoán là sức mua của các thị trường xuất khẩu đang giảm sút nhanh trong năm nay, từ 30-50%, tùy mặt hàng, về giá cũng như lượng, thì độ tăng trưởng GDP của chúng ta có khả năng là sẽ âm trong năm tới, khi các hợp đồng xuất khẩu đã hết hạn.

Kịch bản này sẽ còn tiếp diễn trong ít nhất là ba năm tới. Giảm phát trong giai đoạn này lại có ý nghĩa tiêu cực. Chỉ số giá cả giảm do cả cầu lẫn cung đều giảm, chứ không chỉ vì tổng cung tiền giảm, dẫn đến thất nghiệp, thu nhập giảm, trong đó người nghèo bị ảnh hưởng nặng nhất, dẫn đến bất ổn xã hội.

Những chính sách kích cầu có tính hướng ngoại do đó sẽ không có kết quả khả quan kịp thời để ngăn chặn đà tụt dốc của nền kinh tế. Do vậy vào thời điểm này, cần thiết phải kích cầu theo hướng hướng nội, tập trung nguồn lực phát triển thị trường nội địa. Đây là một thị trường còn đầy tiềm năng (trên 80 triệu người; cả phần lượng lẫn phần chất của thị trường này còn rất thấp, đặc biệt là phần chất).

Đây là lúc ta cần trở về “tắm ao ta”. Có đục thì ta cố gắng làm trong hơn. Có nhỏ thì vẫn là ao ta, ta có độ chủ động cao hơn, ta có thể bám lấy nó để tồn tại, hơn là bươn chải ra khơi khi còn sóng to gió lớn, sẽ mất thì giờ, tốn kém chi phí lớn mà thu hoạch không được bao nhiêu. Đây không phải là một chính sách co cụm để “thay thế nhập khẩu” (import-substitution), mà là một chính sách vừa cố gắng “thúc đẩy xuất khẩu” (export-promotion) trong điều kiện thực tế và chọn lọc, vừa tập trung đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước để giúp sản xuất có đầu ra một cách chủ động hơn.

Đây cũng là cơ hội chỉnh đốn nội lực cho cuộc chơi lâu dài. Muốn làm được vậy, chúng ta cần phải có cách làm quyết liệt để có một hệ thống cơ cấu phù hợp với thực tiễn thị trường, có hiệu suất cao hơn để triển khai chương trình kích cầu một cách hiệu quả mà không phát sinh những hệ quả phụ tiêu cực.

Tập trung cho kinh tế tư nhân

Câu hỏi đầu tiên cần phải đặt ra cho mục tiêu kích cầu này là: “Ai nên được phân bổ cái gì, để làm gì, cho ai?”.

Yêu cầu đặt ra cho kích cầu hiện nay là phải có kết quả nhanh, có nhiều người được tham gia và được hưởng kết quả từ chính sách. Như vậy thành phần chủ đạo trong chiến dịch kích cầu phải là thành phần kinh tế tư nhân lâu nay có hiệu suất kinh tế cao hơn và khả năng tạo công ăn việc làm lớn hơn 5-7 lần so với thành phần kinh tế nhà nước, trên một đơn vị đầu tư.

Kinh nghiệm phát triển của Đài Loan là một trường hợp đáng cho ta chiêm nghiệm. Vào thập niên 1950, thành phần kinh tế công đóng góp khoảng 75% GDP. Đến đầu thập niên 1960, Đài Loan chủ trương dùng thành phần kinh tế tư nhân (đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) làm chủ lực cho công cuộc phát triển.

Trong suốt 20 năm sau đó, thành phần kinh tế công vẫn tiếp tục tăng trưởng trung bình 7%/năm, trong khi đó thành phần kinh tế tư nhân tăng trưởng 15-20%/năm. Sách lược phát triển của Đài Loan dựa vào nguyên tắc thị trường và thành phần kinh tế tư nhân đã mở đường cho Đài Loan trở thành một nền kinh tế phát triển vào giữa thập niên 1980, với thành phần kinh tế tư nhân đóng góp 70% GDP, tạo hơn 80% công ăn việc làm mới.

Đài Loan đã triển khai một sách lược hiệu quả, đó là “Tư hữu hóa rủi ro, xã hội hóa cơ hội” để tận dụng nguồn lực tối ưu, đỡ bớt gánh nặng đầu tư rủi ro ở nhiều lĩnh vực mà chính quyền không chuyên và không có thế mạnh. Và cũng nhờ vào chủ trương phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà Đài Loan đã vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn nhờ chia đều rủi ro cho nhiều doanh nghiệp, thay vì tập trung vào một số tập đoàn lớn như ở Hàn Quốc hay Nhật Bản.

Qua các thời kỳ khủng hoảng khu vực, các tập đoàn của Nhật và Hàn Quốc đã thể hiện sự lúng túng do thiếu sự linh động để xoay xở, điều chỉnh kịp thời, không như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mặc dù họ đều là những doanh nghiệp cổ phần.

Cuộc khủng hoảng toàn cầu vẫn chưa được định hình, nên tìm ra thuốc chữa là chưa thể có được. Nước đầu tàu của cuộc khủng hoảng là Mỹ đang đối đầu với một căn bệnh hiểm nghèo mà mỗi toa thuốc đều có tác dụng phụ có thể làm chết người. Hàng ngàn tỉ USD mà chính phủ Obama dự tính đầu tư để kích cầu kinh tế Mỹ sẽ dẫn đến tình trạng siêu lạm phát, với độ tăng trưởng thật âm.

Đầu năm khi ông Obama nhậm chức, tâm lý kỳ vọng phấn khởi của dân Mỹ vào vị tổng thống mới, trẻ, năng động sẽ có tác dụng tốt lên thị trường chứng khoán. Nhưng chỉ trong vòng vài tháng người dân Mỹ lại phải đối đầu với thực tế là họ phải tiếp tục thắt lưng buộc bụng, uống liều thuốc đắng mà tương lai vẫn còn mù mịt. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng hoảng loạn trong xã hội Mỹ vì người dân Mỹ có độ chịu đựng tương đối thấp.

Tình hình kinh tế thế giới sẽ còn u ám một thời gian dài, ít nhất là năm năm nữa. Như vậy đối với chúng ta, mục tiêu tối thượng trong giai đoạn trước mắt không phải là tăng trưởng kinh tế mà là ổn định xã hội để tồn tại. Ổn định xã hội là tạo công ăn việc làm, duy trì và cố gắng nâng cao mức thu nhập cho thành phần nghèo nhất.

Chúng ta có đến 40 triệu dân đang có thu nhập dưới 2 USD/ngày, phần lớn tập trung ở nông thôn. Đây là thành phần quyết định tính ổn định xã hội cho nên họ phải là mục tiêu ưu tiên trong chính sách kích cầu.

Tạo nội lực

Các doanh nghiệp tư nhân ở các địa phương nghèo cần được hưởng ưu đãi tín dụng và các chương trình cho vay chính sách, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư có khả năng tạo nhiều công ăn việc làm. Rồi đây một số lớn lao động các thành phố lớn bị thất nghiệp sẽ đến với các doanh nghiệp địa phương có nhu cầu tuyển dụng. Đây là cơ hội để số lao động này trở về quê, cũng là cơ hội để chúng ta phát triển đồng bộ, giảm gánh nặng hạ tầng cơ sở vật chất và xã hội đang đè nặng các thành phố lớn, cho phép chúng ta công nghiệp hóa theo chiều hướng “ly nông nhưng không ly hương”.

Các trường chuyên nghiệp được hỗ trợ bởi chủ trương kích cầu sẽ có điều kiện đào tạo nghề cho các thanh niên vừa trưởng thành vào đời, vừa tái đào tạo miễn phí cho số công nhân thất nghiệp bị sa thải vì xí nghiệp đóng cửa. Về phía người lao động bị mất việc, họ cần được tái đào tạo, trang bị kiến thức tay nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và tăng giá trị cạnh tranh. Nhà nước sẽ tài trợ học phí cho học viên và khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với các trung tâm đào tạo để học viên được dạy những ngành nghề xã hội đang cần.

“Vấn đề đầu tiên là tiền đâu?”. Đây là lúc chúng ta cần đến số tiền từ quỹ dự trữ quốc gia. Phần lớn số tiền này đang được ký gửi ở các nước, qua trái phiếu hoặc các tài khoản có độ an toàn cao nhưng lãi suất rất thấp, chỉ khoảng 3-5%/năm. Chỉ cần sử dụng kịp thời một phần khoản dự trữ này, chúng ta đã có thể tạo ra được nội lực để chịu đòn từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu với quy mô chưa từng có mà chắc chắn chúng ta sẽ không tránh khỏi.

Chúng ta sẽ không thể trông cậy vào vốn ODA hoặc FDI vì các nguồn vốn này cũng đang chịu tác động của cơn bão táp tài chính và lại không phải là nguồn vốn tốt nhất. Nếu Trung Quốc đã mạnh dạn đầu tư gần 2/3 GDP của họ (586 tỉ USD) thì 20 tỉ USD trong quỹ dự trữ mà chúng ta có không phải là con số lớn.

 

 

bantinsom.com ( theo vnchannel )