Thứ năm, 07/05/2009, 20:09 GMT+7
Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật Bản Con đường nào cho các doanh nghiệp Việt Nam?
Một số luận bàn về công nghiệp hỗ trợ: 1.1. Thế nào là công nghiệp hỗ trợ ? - Quan điểm Khái niệm công nghiệp hỗ trợ (Supporting Industry-SI- còn được gọi là công nghiệp phụ trợ) bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960, phổ biến ở Nhật Bản và sau này là các nước công nghiệp trẻ châu á như Hàn Quốc, Thái Lan, hay vùng lãnh thổ Đài Loan.

Đây là những nơi mà chi tiết các sản phẩm thường được gia công ở một đơn vị sản xuất khác với nơi chế tạo, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng. Chẳng hạn, để sản xuất một chiếc xe máy hoàn thiện, đòi hỏi hơn 700 linh kiện phụ tùng: động cơ, thân xe, giảm sóc và hàng trăm linh phụ kiện khác. Thông thường, các nhà sản xuất xe máy không tự mình cung ứng tất cả chi tiết đó, mà họ thuê các nhà cung cấp nội địa gia công những bộ phận hay công đoạn không thực sự quan trọng. Nếu nhìn rộng hơn, chúng ta sẽ thấy thực trạng tương tự trong các ngành công nghiệp khác như ôtô, dệt may, da giầy, điện tử...

Như vậy, công nghiệp hỗ trợ là nền tảng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chính yếu, nó cung cấp linh kiện, phụ tùng, nguyên phụ liệu... cho các ngành công nghiệp sản xuất. Cho tới nay, vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào cho ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam và nó đang được hiểu như một ngành công nghiệp phụ giúp cho việc lắp ráp các sản phẩm cuối cùng, thông qua việc cung cấp các bộ phận, chi tiết hoặc các sản phẩm hàng hoá trung gian khác. Nói cách khác, thay vì sản xuất sản phẩm với tất cả các bộ phận chi tiết (sản xuất trọn gói), các công đoạn sản phẩm sẽ được chuyên môn hoá thành từng phần, và mỗi ngành công nghiệp chỉ sản xuất một phần của sản phẩm đó.  Quá trình chuyên môn hoá như vậy cũng được hiểu là công nghiệp hỗ trợ.

Như vậy, chúng ta có thể hình dung, công nghiệp hỗ trợ như chân núi, tạo phần cứng để hình thành nên thân núi và đỉnh núi chính là ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp các sản phẩm công nghiệp hoặc sản phẩm tiêu dùng. Do đó, công nghiệp hỗ trợ thông thường phải phát triển trước làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp chính yếu. Tuy nhiên, trên thực tế đã có những quốc gia thành công khi phát triển song song cả công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp lắp ráp, tạo ra những tác động tích cực hai chiều

-  Các loại hình hỗ trợ

Tỷ lệ nội địa hóa và công nghiệp hỗ trợ, về hình thức, dường như chúng tách biệt nhau, nhưng ngược lại, hai vấn đề này thực chất lại là một, nếu nhìn nhận theo mục tiêu phát triển công nghiệp nội địa. Tương ứng với ba hình thức của nội địa hóa; (1) Sản xuất nội bộ của các công ty lắp ráp, (2) thu mua từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại nước sở tại và (3) thu mua từ các doanh nghiệp nội địa, sẽ có ba hình thức hỗ trợ; hỗ trợ “ruột”, hỗ trợ “hợp đồng” và hỗ trợ “thị trường”.

- Hỗ trợ “ruột” là loại hình khá phổ biến ở các nước công nghiệp, được các tập đoàn mạnh ứng dụng rất thành công. Theo loại hình này, một tập đoàn công nghiệp sẽ thành lập và phát triển cho mình một mạng lưới các nhà cung ứng dưới hình thức công ty mẹ - con, các công ty cung ứng chỉ thực hiện sản xuất linh kiện, phụ tùng quan trọng, hàm chứa các bí quyết công nghệ theo yêu cầu của công ty lắp ráp trong tập đoàn. Hiện nay, Công ty VMEP Việt Nam đang phát triển loại hình hỗ trợ này. Theo khảo sát vào đầu tháng 11 năm 2005 của chúng tôi, công ty VMEP đã xây dựng được một hệ thống các nhà cung cấp “ruột” gồm 17 công ty, trước hết tập trung sản xuất các linh kiện, phụ tùng mà các doanh nghiệp nội địa chưa sản xuất được hoặc với số lượng chưa đủ.

- Hỗ trợ “hợp đồng” là loại hình hỗ trợ được thực hiện theo cam kết giữa các nhà cung ứng với các công ty lắp ráp theo từng yêu cầu và trong từng thời điểm nhất định đối với các linh kiện ít quan trọng hơn. Công nghiệp Việt Nam nói chung và công nghiệp xe máy nói riêng, đang phổ biến loại hình hỗ trợ này (cũng bởi vì các linh kiện xe máy ngày nay không còn qúa nhiều điều “bí ẩn”). Các công ty FDI lắp ráp xe máy luôn tìm kiếm và ký kết các hợp đồng mua các loại phụ tùng, phụ kiện với các nhà cung cấp tại Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa. Nếu trước năm 1998, Công ty SUZUKI Việt Nam nhập khẩu hơn 80% giá trị phụ tùng, phụ kiện thì đến nay giá trị nhập khẩu chỉ còn khoảng 20%. Tuy nhiên, trong hệ thống các nhà cung ứng cho các công ty lắo ráp, số doanh nghiệp nội địa là khá ít và tỷ lệ giá trị lại càng thấp, chủ yếu là các chi tiết đơn giản.

- Hỗ trợ “thị trường” là loại hình hỗ trợ mà các phụ tùng, phụ kiện có tính phổ biến, không chứa đụng nhiều bí quyết công nghệ, được các nhà sản xuất bán trên thị trường, không theo một cam kết nào đối với các nhà lắp ráp. Các công ty lắp ráp cũng có thể tự do lựa chọn các sản phẩm minh cần trên thị trường. Tuy nhiên, đối với các loại sản phẩm có tính hỗ trợ, tức là đầu vào cho các ngành trung gian hay ngành sản xuất cuối cùng, hình thức này chưa được phát triển và nhìn chung khả năng phát triển là khá thấp, đặc biệc ở Việt Nam vì hai lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, các doanh nghiệp hỗ trợ kể cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa thường rất khó khăn trong giai đoạn đầu - giai đoạn đầu tư công nghệ và kỹ thuật phù hợp với các yêu cầu của các nhà lắp ráp, trong đó khó nhất là khâu thiết kế và sản xuất khuôn mẫu. Trong bất kỳ ngành nào, sự khác biệt sản phẩm, cụ thể là sự khác biệt về kích cỡ, mẫu mã và các thông số kỹ thuật dẫn đến việc đưa ra các yêu cầu khác nhau từ các công ty lắp ráp, chính vì vậy bản vẽ về khuôn mẫu luôn được thực hiện bởi các nhà lắp ráp.

Thứ hai, theo quan niệm của các nhà lắp ráp, trong “chiến lược thu mua” họ không ưu tiên thực hiện việc mua sắm các sản phẩm đầu vào trôi nổi trên thị trường, bởi họ sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí khá lớn để kiểm định chất lượng sản phẩm, các thông số kỹ thuật và đặc biệt trong đó bao gồm cả việc kiểm định xuất xứ nguyên vật liệu làm nên các sản phẩm đó.

- Các lớp hỗ trợ

Mỗi ngành công nghiệp có những đặc thù về đặc điểm kinh tế - kỹ thuật và các lớp hay các cấp hỗ trợ cũng nên hiểu trên cơ sở đặc thù của từng ngành. Do vậy, hỗ trợ không nên hiểu theo cấp độ ngành mà khái niệm hỗ trợ nên được tư duy theo quá trình sản xuất như: hỗ trợ nguyên liệu cơ bản, hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ chi tiết, hỗ trợ cụm chi tiết và hỗ trợ sản phẩm.

1.2. Khái quát thực trạng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

Một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa là việc phát triển công nghiệp hỗ trợ. Theo đó, các chính sách về nội địa hóa đã đi vào cuộc sống và ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, do ngành công nghiệp Việt Nam đang ở trong thời kỳ đầu của quá trình chuyển dịch sang “thế hệ công nghiệp thứ hai” nên việc thực hiện tỷ lệ nội địa hóa cao là khó có thể đạt được không chỉ do tác động của hội nhập, sự hạn chế trong việc phát triển công nghiệp hỗ trợ mà còn do động cơ nội địa hóa của các tập đoàn, các công ty FDI. Thực tế cho thấy, các nước đi trước như Thái Lan, Malaysia và Indonesia đã mất khoảng thời gian khá dài mà vẫn chưa thực sự đạt được mục tiêu đặt ra trong chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Cho đến nay, nhìn chung công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn sơ khai, điều này lại càng rõ nét nếu nhìn nhận từ khu vực các nhà cung cấp (SMEs). Số lượng các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa mặc dù được tăng lên khá nhanh nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu sản xuất các chi tiết, linh kiện đơn giản và cơ cấu giá trị trong tổng giá trị nội địa hóa kể cả các doanh nghiệp FDI là rất nhỏ. Để nhận dạng công nghiệp hỗ trợ Việt Nam hiện nay, có ba yếu tố sau cần phải được xem:

Thứ nhất là tính chất và đặc thù của các sản phẩm và loại sản phẩm hỗ trợ (phụ tùng, linh kiện, nguyên phụ kiện...). Cũng như giai đoạn đầu của công nghiệp Thái Lan và một số nước ASEAN khác, các doanh nghiệp nội địa Việt Nam chỉ có thể tập trung đầu tư và phát triển sản xuất các loại phụ tùng, linh kiện có kích cỡ cồng kềnh và công nghệ sản xuất không phức tạp với mục tiêu đáp ứng nhu cầu, thậm chí là yêu cầu của các công ty lắp ráp FDI. Để minh họa cho phân tích này, xin nêu ra ví dụ về công nghiệp xe máy Việt Nam.

Hiện tại, Công ty SUZUKI Việt Nam đã tạo dựng được một hệ thống các nhà cung cấp nội địa bao gồm 11 công ty Nhật Bản, 22 công ty Đài Loan, 16 công ty Việt Nam và 7 công ty khác, tương tự như vậy với công ty Honda và VMEP. Tuy nhiên, các chi tiết, cụm chi tiết khó và động cơ, các nhà lắp ráp vẫn phải nhập khẩu bởi các nhà cung cấp nội địa chưa thể đảm nhận. Có một số nhà cung cấp như MAP (Machino Auto Parts Co.,Ltd), Broard Bright, TSUKUBA hay Vision...) đã bắt đầu thực hiện sản xuất một số chi tiết khó nhưng với số lượng ít và chất lượng chưa thể ngang bằng với hàng nhập khẩu.

Thứ hai là năng lực của các nhà cung ứng bao gồm cả doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI. Mặc dù các chính sách khai thông dòng đầu tư nước ngoài ngày càng được cải thiện, song số lượng và năng lực của các doanh nghiệp cung cấp FDI vẫn chưa đủ mạnh, các doanh nghiệp nội địa có trình độ công nghệ lạc hậu và trung bình, năng lực tổ chức sản xuất và quản lý chưa đáp ứng được đòi hỏi của các nhà lắp ráp FDI. Một trong những điểm yếu của các doanh nghiệp nội địa là khả năng nghiên cứu phát triển (R&D). Tất nhiên, điều này xuất phát một phần từ sự hạn chế về tài chính, trong khi đó các doanh nghiệp cung cấp FDI đã có những bước tiến khá quan trọng trong khâu R&D, điển hình là công ty BORAMTEX của Hàn Quốc trong lĩnh vực sản xuất phụ tùng xe máy.

Thứ ba là yêu cầu đặt ra cũng như chính sách thu mua từ phía các công ty lắp ráp FDI. Dù là hình thức sản xuất nào; theo dây chuyền (các công ty Nhật Bản và các nước tiên tiến) hay theo công đoạn (các công ty Trung Quốc), các công ty lắp ráp FDI đều có những yêu cầu rất khắt khe đối với các nhà cung ứng về chất lượng, các thông số kỹ thuật, nguồn nguyên vật liệu và thời hạn giao hàng. Do đó, các doanh nghiệp nội địa khó có khả năng đáp ứng một cách toàn diện các yêu cầu trên. Số lượng các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa trong ngành công nghiệp xe máy là khá nhiều, nhưng trong số đó, là nhà cung ứng các phụ tùng, linh kiện cho các công ty lắp ráp FDI thì không đáng kể. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Một số doanh nghiệp cho rằng, đó là triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp FDI - nặng về loại hình hỗ trợ “ruột”. Tuy nhiên, nếu xem xét trên quan điểm “động cơ nội địa hóa” của các công ty lắp ráp FDI thì nguyên nhân chính vẫn là năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh và uy tín của các doanh nghiệp này. Như vậy, các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam cần phải làm gì để trở thành các nhà cung ứng cho các công ty lắp ráp FDI?

2. Khai thông con đường

- Yêu cầu từ các hãng chính

Nhìn chung, việc quyết định “thu mua” hay lựa chọn nhà cung ứng các sản phẩm trung gian của các tập đoàn, các công ty đa quốc gia có những sự khác biệt nhau. Việc xác định tỷ lệ nhập khẩu, sản xuất nội bộ hay nội địa hoá được dựa trên các mục tiêu khác nhau của những người ra quyết định độc lập trong nội bộ tập đoàn. Với các tập đoàn Nhật Bản, có ba người ra quyết định – (1) nhà thiết kế sản phẩm tại công ty mẹ, (2) nhà quản lý vật tư tại công ty mẹ và (3) các chi nhánh ở nước ngoài. Do vậy, các yêu cầu của các doanh nghiệp, tập đoàn Nhật Bản đặt ra ở mức độ khá cao và tương đối phức hợp đối với các nhà cung ứng Việt Nam (SMEs). Đối với các nhà cung cấp, dù là công ty liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài hay các doanh nghiệp nội địa, các tập đoàn Nhật Bản thường đặt ra bốn vấn đề lớn: Nguyên vật liệu, chất lượng sản phẩm, giá cả và một số dịch vụ kèm theo. Để làm rõ hơn các yêu cầu này, xin quay lại trường hợp nghiên cứu công nghiệp xe máy Việt Nam.

Hiện nay, có 7 doanh nghiệp FDI lớn đang hoạt động trong lĩnh vực lắp ráp xe máy tại Việt Nam, trong đó đáng kể nhất là ba doanh nghiệp Nhật Bản (Honda, Suzuki, Yamaha) và một doanh nghiệp Đài Loan (VMEP). Theo kết quả khảo sát, các doanh nghiệp này luôn đặt ra yêu cầu khắt khe theo bốn tiêu chí sau đây đối với các nhà cung cấp:

- Nguồn nguyên vật liệu

Mặc dù các nhà cung cấp phụ tùng, phụ kiện hoàn toàn độc lập trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng họ luôn phải tuân thủ theo những cam kết hợp đồng về nguồn hay xuất xứ nguyên vật liệu. Tùy thuộc vào loại sản phẩm mà các công ty lắp ráp đưa ra các yêu cầu về xuất xứ nguyên vật liệu nhưng nói chung, nguyên liệu thông thường phải được nhập khẩu từ một số nước và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và một số từ Trung Quốc. Ví dụ các sản phẩm từ nguyên liệu chì thì phải được nhập từ Australia và Nhật, các sản phẩm từ thép thì phải được nhập từ Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan... Khi nhận hàng, các công ty lắp ráp (các công ty Nhật Bản) luôn chọn mẫu và dùng các thiết bị kiểm định với công nghệ cao để phân tích nguồn gốc nguyên vật liệu.

- Loại sản phẩm

Qua các phân tích về hành vi lựa chọn các nhà cung cấp và những loại sản phẩm kèm theo, các công ty lắp ráp đều có động cơ tìm kiếm và kỳ vọng ở các doanh nghiệp Việt Nam một số linh kiện hoặc phụ tùng có kích cỡ cồng kềnh, trọng lượng lớn như vỏ nhựa, ống kim loại, một số khuôn đúc, dập, ép v.v. Thực tế cho thấy, công nghệ sản xuất các linh kiện, chi tiết trên không cao như công nghệ sản xuất động cơ hay các linh kiện điện tử khác, do đó họ hoàn toàn có thể trông đợi vào các doanh nghiệp Việt Nam trong việc thay thế nhập khẩu một số linh kiện trung gian này.

- Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm luôn là tiêu chí ưu tiên hàng đầu của các công ty lắp ráp FDI đối với các nhà cung cấp. Dù là loại sản phẩm nào, kích cỡ bao nhiêu, giá trị thấp hay cao, các công ty lắp ráp luôn thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm sản xuất thử trước khi đặt hàng. Quy trình đi đến quyết định cuối cùng là ký hợp đồng thu mua từ các nhà cung cấp thường rất chặt chẽ, các công ty lắp ráp trước hết khảo sát năng lực của nhà cung cấp bao gồm năng lực sản xuất (kinh nghiệm), năng lực quản lý, năng lực tài chính... sau đó họ hỗ trợ các nhà cung cấp một số điều kiện cần thiết như bản vẽ thiết kế, thậm chí cung cấp khuôn mẫu và cuối cùng là việc thực hiện ký kết hợp đồng nếu chất lượng sản phẩm sản xuất thử được chấp nhận.

- Đảm bảo các yêu cầu về dịch vụ: thời gian và các dịch vụ sau bán...

Công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, song nó chưa thực sự có hệ thống, mà còn manh mún, phân tán với quy mô nhỏ, các loại sản phẩm cũng như khối lượng được bán trên thị trường cũng chưa đủ nhiều cho sự bổ sung cần thiết trong những thời điểm nhất định, nên các công ty lắp ráp, mặc dù ý thức rất rõ, nhưng khó có thể lập kế hoạch dự phòng hợp lý. Do vậy, yêu cầu của các công ty lắp ráp FDI đối với các nhà cung cấp về sự kịp thời trong việc cung cấp đầy đủ khối lượng hàng (phụ tùng, phụ kiện) là tiêu chí không kém phần quan trọng và đồng thời cũng là điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đánh giá của các nhà quản lý tại các công ty lắp ráp FDI trong lĩnh vực xe máy, các doanh nghiệp Việt Nam không mấy coi trọng yếu tố thời hạn trong cam kết giao nhận hàng hoá. Trong khi tiến độ lắp ráp và kế hoạch phụ tùng, linh kiện đòi hỏi sự chính xác đến hàng ngày, thậm chí hàng giờ, thì đa số các nhà cung cấp Việt Nam chậm từ 10 ngày đến 15 ngày. Đây là tiêu chí rất quan trọng và các nhà lắp ráp Nhật Bản thường gọi nó là “Belief” - sự tin tưởng.

- Các hỗ trợ từ các hãng chính cho các doanh nghiệp phụ trợ VN

Trong mối liên kết giữa các công ty lắp ráp và các nhà cung cấp, cơ chế hỗ trợ có tính hai chiều vẫn chưa thực sự rõ ràng, đặc biệt là từ phía các nhà lắp ráp. Tuy nhiên, bởi những hạn chế nhất định của các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa mà các công ty lắp ráp cũng có những hỗ trợ nhất định cho các nhà cung cấp, nhưng mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ kỹ thuật.

+ Gửi chuyên gia kỹ thuật đào tạo tại chỗ.

Các công ty lắp ráp thường cử những chuyên gia từ một số công ty hỗ trợ “ruột” hỗ trợ cho các nhà cung cấp Việt Nam trong giai đoạn đầu của quá trình sản xuất các sản phẩm hỗ trợ theo yêu cầu của các nhà lắp ráp bởi khi thực hiện đầu tư tại Việt Nam, các công ty lắp ráp thường phát triển song song một hệ thống các nhà cung cấp theo loại hình hỗ trợ “ruột”, làm nền tảng cho chiến lược phát triển các nhà cung cấp nội địa (đã được chứng minh qua công nghiệp điện  tử, xe máy... và gần đây là công nghiệp ôtô)

+ Cung cấp khuôn mẫu hoặc bản vẽ cho các nhà cung cấp.

Một trong những vấn đề khó nhất đối với các nhà cung cấp, kể cả các nhà cung cấp FDI, là chế tạo khuôn mẫu. Các nhà lắp ráp khác nhau có các yêu cầu về mẫu mã, kích cỡ cũng như các thông số kỹ thuật khác nhau, hơn nữa, mỗi nhà sản xuất phụ tùng, phụ kiện trong những thời điểm nhất định có thể là nhà cung cấp cho nhiều nhà lắp ráp. Các doanh nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong hầu hết các ngành, cho đến nay, chưa có doanh nghiệp nào tự thiết kế và sản xuất được khuôn mẫu.

3. Các chính sách cơ bản

Như đã nêu, để phát triển công nghiệp hỗ trợ, cần “con đường 2 chiều” – từ các nhà lắp ráp đến các nhà cung ứng và ngược lại. Thiết nghĩ trong điều kiện của Việt Nam – một nước kém phát triển, sự khai thông con đường 2 chiều đó sẽ phải chờ đợi và phụ thuộc nhiều hơn vào các nhà lắp ráp hay còn gọi là các hãng chính. Bởi vậy, chúng ta có thể bàn đến một số chính sách sau:

3.1. Sự vào cuộc của Chính phủ

- Thiết lập cơ quan đầu mối, các tổ chức thông tin chuyên nghiệp về công nghiệp hỗ trợ nhằm hỗ trợ các nhà cung cấp nội địa các thông tin về yêu cầu cũng như mong muốn của các nhà lắp ráp FDI về các loại, dòng sản phẩm. Hiện nay, có ba trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật (Technical Assistance Center) tại Hà Nội, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh đã đi vào hoạt động với mục tiêu hỗ trợ cho các doanh nghiệp hỗ trợ vừa và nhỏ, nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà lắp ráp FDI.

- Tạo ra các ưu đãi cần thiết cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ đi theo các hãng chính.

- Xây dựng thí điểm một số khu công nghiệp hỗ trợ với các ưu đãi riêng như gần hãng chính về mặt địa lý, chính sách đất đai, thuế...

- Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các hiệp hội nghề nghiệp liên quan đến các sản phẩm hỗ trợ để thực sự tạo cầu nối giữa các doanh nghiệp cung cấp nội địa với các hãng chính (các nhà lắp ráp FDI) và giữa các doanh nghiệp cung cấp nội địa với các doanh nghiệp cung cấp FDI, đảm nhận được vai trò của người xúc tiến đầu tư với năng lực bảo lãnh tốt đối với các khoản tín dụng trong và ngoài nước cho việc đầu tư phát triển khối các doanh nghiệp cung cấp nội địa.

3.2. Các nhà lắp ráp

- Các nhà lắp ráp đóng vai trò quan trọng hơn nữa trong việc kêu gọi các công ty cung cấp từ nước ngoài bởi sự xuất hiện của các doanh nghiệp cung cấp FDI với trình độ công nghệ khá tiên tiến, kỹ năng quản lý cao sẽ có mức độ ảnh hưởng rất lớn (dù gián tiếp hay trực tiếp) đến sự nhận thức và phát triển của các doanh nghiệp cung cấp nội địa.

- Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật bằng hình thức cử chuyên gia đến các nhà cung cấp nội địa nhằm đào tạo kỹ thuật sản xuất trực tiếp, xây dựng và khơi nguồn phát triển công tác nghiên cứu phát triển – khâu quan trọng nhất nhưng yếu nhất đối với các nhà cung cấp nội địa.

- Trợ giúp chuyển giao công nghệ và một số chính sách tài chính tín dụng như tín dụng ứng trước... mà không chỉ dừng lại ở sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật.

- Thu nạp các nhà cung cấp nội địa vào chuỗi cung cấp của hãng chính bằng các chính sách hỗ trợ cần thiết. Đây là yếu tố có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các nhà cung cấp nội địa trong giai đoạn đầu - khi mà hệ thống công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang phôi thai, manh mún với quy mô nhỏ.

3.3. Các nhà cung cấp nội địa

- Nỗ lực đầu tư, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật từ các hãng chính, cũng như các nhà cung cấp FDI bằng nhiều cách khác nhau, như: hợp tác, liên doanh, liên kết...

- Tôn trọng các khế ước, hợp đồng trong “xã hội hợp đồng”. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự gián đoạn, thậm chí thất bại trong kinh doanh mà hiện nay vẫn thường thấy ở các doanh nghiệp cung cấp Việt Nam.

- Tích cực xây dựng các quan hệ thông tin như tham gia các hội chợ, triển lãm và hội thảo chuyên đề về phát triển công nghiệp cung cấp cho các lĩnh vực khác nhau.

- Sự kiên nhẫn và cầu thị, sự linh hoạt và sáng tạo như là điều kiện đủ làm tăng xúc tác cho quá trình trở thành nhà cung cấp nội địa

bantinsom.com ( theo vami )