Thứ năm, 07/05/2009, 20:01 GMT+7
Giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam đã xuất hiện vào cuối những năm 90. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) ở nước ta bắt đầu được quy định bằng Nghị định số 22/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/4/1999, Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam; Quyết định 116/2001/QĐ-TTg ngày 02/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số ưu đãi, khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí.

Sau khi Luật đầu tư 2005 được ban hành và có hiệu lực từ 1/7/2006, khuôn khổ pháp lý của hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã được hoàn thiện hơn. Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP) đã tạo ra một hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Thực trạng đầu tư ra nước ngoài thời gian qua

Kể từ năm 1989 đến  18/12/2006, hoạt động ĐTRNN của nước ta có xu hướng tăng lên cả về số dự án và vốn đầu tư, hiện có 183 dự án ĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 968 triệu USD.

Quy mô vốn trung bình của một dự án ĐTRNN là 5,29 triệu USD. Ngành công nghiệp có quy mô vốn bình quân cao nhất, đạt 9,62 tỷ USD/dự án, tiếp đến là ngành nông nghiệp, bình quân 3,59 triệu USD/dự án, thấp nhất là ngành dịch vụ; bình quân 1,63 triệu USD/dự án.

Ba lĩnh vực có vốn đầu tư nhiều nhất là công nghiệp dầu khí (chiếm 38,1% tổng vốn đầu tư), công nghiệp nặng (chiếm 30,3% tổng vốn đầu tư), nông – lâm nghiệp (chiếm 12,4% tổng vốn đầu tư). Các lĩnh vực có vốn đầu tư thấp nhất là xây dựng văn phòng, căn hộ, công nghiệp thực phẩm, thuỷ sản, khách sạn, du lịch, văn hoá, y tế, giáo dục.

Hiện nay, hoạt động ĐTRNN của Việt Nam đã có mặt tại 33 nước trên thế giới. Phần lớn các dự án ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam tập trung tại 3 nước: Lào (có 63 dự án, tổng vốn đầu tư là 418,03 triệu USD, chiếm 34,4% tổng số dự án và 43,17% về vốn đầu tư), LB Nga (có 11 dự án, tổng vốn đầu tư là 73,06 triệu USD, chiếm 6,0% tổng số dự án và 7,5% về vốn đầu tư) và Campuchia (có 15 dự án, tổng vốn đầu tư là 32,85 triệu USD, chiếm 8,2% tổng số dự án và 3,4% về vốn đầu tư). Đáng chú ý là đã có 21 dự án đầu tư tại Hoa Kỳ với tổng vốn đầu tư là 1,4 triệu USD, chiếm 11,5% tổng số dự án và 1,5% về vốn đầu tư. Riêng dự án thăm dò, khai thác dầu thô tại Angeri do phát hiện khí thương mại nên trong năm 2006 đã tăng vốn thêm 208 triệu USD thành 243 triệu USD.

Với khuôn khổ pháp lý được hoàn thiện hơn, cùng với sự phát triển mạnh của các thành phần kinh tế trong nước và những thành tựu lớn trong hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, năm 2006, hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp tại Việt Nam tiếp tục khởi sắc. Đã có thêm nhiều doanh nghiệp có khả năng tài chính cũng như kinh nghiệm để đầu tư ra nước ngoài.

Năm 2006, đã có 33 dự án do các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký mới trên 136,5 triệu USD. Cũng trong năm 2006 đã có 4 dự án ĐTRNN với tổng vốn tăng thêm là 211,2 triệu USD, trong đó đáng chú ý nhất là dự án Hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí tại Angieri của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam tăng thêm 208 triệu USD vốn ĐTRNN do đã phát hiện được dầu sau thời gian khảo sát, thăm dò.

Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2006 các doanh nghiệp Việt Nam đã ĐTRNN với tổng vốn đầu tư là 347,3 triệu USD, xấp xỉ bằng mức thực hiện năm 2005.

Trong năm 2006, tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án ĐTRNN khoảng 80 triệu USD, bằng 23% tổng vốn đầu tư đăng ký trong năm. Một số dự án lớn đã triển khai thực hiện, cụ thể: trong lĩnh vực công nghiệp có các dự án thăm dò dầu khí lô 433a & 416b tại Angieri và lô SK305 ở Malaysia của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với vốn đầu tư thực hiện khoảng 30 triệu USD, dự án đầu tư sang Singapore của Công ty Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí (PTSC) với vốn thực hiện 22,7 triệu USD, dự án xây dựng thuỷ điện Xekaman 3 với vốn đầu tư thực hiện khoảng trên 8 triệu USD. Hiện nay, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã cùng các đối tác phát hiện dầu khí mới tại lô 433a – 416b ở Angieri (giếng MOM-2 có phát hiện dầu khí, giếng MOM-6bis cho dòng dầu 5.100 thùng/ngày) và lô hợp đồng SK305 ở Malaysia (giếng DANA-1X cho dòng dầu 3.100 thùng/ngày) vì thế dự án này đã được tăng vốn đầu tư trong năm 2006.

Ngoài ra còn có dự án đầu tư trong các lĩnh vực/ngành: (i) công nghiệp sản xuất hàng may mặc tại Lào của Công ty Scavi Việt Nam; (ii) lĩnh vực nông nghiệp các dự án trồng cao su tại 4 tỉnh Nam Lào của Công ty Cao su Đắc Lắc với vốn đầu tư thực hiện khoảng 6 triệu USD, dự án trồng, sản xuất và chế biến cao su của Tổng Công ty Cao su Việt Nam với vốn đầu tư thực hiện khoảng 12 triệu USD đã triển khai thực hiện theo tiến độ.

Một số dự án trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã triển khai thực hiện trong năm 2006 như dự án đầu tư sang Singapore của Công ty TNHH Cà phê Trung Nguyên, dự án đầu tư sang Nhật Bản của Công ty cổ phần phần mềm FPT, dự án Công ty cổ phần Tư vấn kỹ thuật và Công nghệ đầu tư sang Singapore, dự án xây dựng TP.Hồ Chí Minh tại LB Nga của Công ty cổ phần Đầu tư Việt Sô, dự án đầu tư sang Campuchia của Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel)...

Một số hạn chế

Thứ nhất, số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài còn nhỏ do năng lực tài chính và kinh nghiệm đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam còn bị hạn chế. Cơ cấu ngành của các dự án ĐTRNN còn chưa hợp lý, nhiều ngành, lĩnh vực có tiềm năng nhưng chưa đẩy mạnh được hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Thứ hai, công tác quản lý của các dự án ĐTRNN còn gặp nhiều khó khăn do việc thực hiện chế độ báo cáo của các dự án ĐTRNN chưa đầy đủ. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng của Chính phủ như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính trong việc quản lý các dự án ĐTRNN cũng còn hạn chế.

Thứ ba, chưa thành lập được các đoàn khảo sát để đánh giá sâu hiệu quả hoạt động ĐTRNN. Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ ta ở nước ngoài với các doanh nghiệp ĐTRNN còn lỏng lẻo nên khi có vụ việc tranh chấp xảy ra sẽ không tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ của nhà nước.

Thứ tư, công tác thẩm tra cấp phép cho các dự án ĐTRNN kể từ khi ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên một số dự án thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư thời gian thẩm tra cho dự án còn kéo dài. Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý về ĐTRNN theo hình thức gián tiếp còn chưa rõ ràng, gây hạn chế đầu tư theo hình thức này.

Thứ năm, chưa có những giải pháp tích cực để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN, tạo điều kiện để các doanh nghiệp ĐTRNN hoạt động kinh doanh có hiệu quả, đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp và cho đất nước.

Một số giải pháp trong công tác quản lý


Để hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn mạnh và đem lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung, trong thời gian tới, công tác quản lý nhà nước cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách quy định hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.


Đơn giản hoá thủ tục đăng ký và cấp giấy phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tiến tới bỏ hình thức cấp phép chuyển sang hình thức đăng ký đầu tư cho thuận tiện mà vẫn không giảm tính chất quản lý nhà nước. Chính phủ cần yêu cầu các bộ, ngành sớm ban hành các văn bản còn thiếu liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp ở nước ngoài tạo hành lang pháp lý đồng bộ điều chỉnh hoạt động kinh tế này.

Các chính sách, chế độ và cơ chế điều chỉnh đối với hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng cần được quy định rõ ràng, ngắn gọn, nhưng phản ánh được các chỉ tiêu cần thiết như: Số vốn thực hiện, tình hình sản xuất kinh doanh, thu hút lao động, xuất khẩu, lợi nhuận... Đồng thời, cần có chế tài đủ mạnh đối với các doanh nghiệp không báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ, không kịp thời tình hình hoạt động ở nước ngoài.

Thứ hai, tăng cường các hoạt động hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.


Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam, trước hết tập trung vào các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh.

Chính phủ nên có các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường cung cấp các loại dịch vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp, cụ thể như: Tổ chức các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc định kỳ hoặc không định kỳ giữa Chính phủ với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hiện đang có dự án triển khai ở nước ngoài; Khuyến khích phát triển đồng bộ các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến dịch vụ cung cấp thông tin.

Thứ ba, tích cực đàm phán ký kết các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần và nâng cao hiệu quả triển khai của các hiệp định đã ký.

Nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Việt Nam đã tích cực ký kết các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần. Cho đến nay, sau hơn 10 năm kiên trì và tích cực đàm phán, Việt Nam đã ký được gần 50 hiệp định với hầu hết các đối tác đầu tư lớn và quan trọng.
Trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường ký kết các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, đồng thời nâng cao hiệu quả triển khai các hiệp định đã ký kết trong thực tiễn để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

bantinsom.com ( theo vami )