Trong những lúc nóng, lạnh khác nhau của TTCK thì thị trường tiền tệ, tín dụng và các thị trường đầu tư khác ra sao?
|
| Tu do hoa tai chinh (Phan.. |
Tại
Việt Nam trong suốt thời gian bùng phát nhiệt độ tại TTCK đã có ít nhất
3 nguyên nhân để giải thích và cũng là 3 tâm điểm gợi ý chính sách để
quản lý TTTC nói chung. Đó là :
i) Do giá trị xuất phát của Công ty phát hành tại thị trường sơ cấp bị
định giá quá thấp dưới giá trị thực (nhiều DN, NHCP chưa tính đủ giá
trị quyền sử dụng đất và dự kiến giá trị thương hiệu kỳ vọng khi định
giá giá trị DN) - Điều này làm phương hại đến tài sản của chủ sở hữu
Công ty, DN (chủ yếu là các DN vừa và nhỏ của Nhà nước CPH, làm cho Nhà
nước bị thiệt thòi).
ii) Quan hệ cung – cầu mất cân đối lớn: hàng vừa rẻ, vừa ít, trong khi “cầu” vừa nhiều, vừa đang khó tìm nơi đầu tư có lợi.
iii) Hiệu ứng đám đông – Các nhà đầu tư trên cả thị trường sơ cấp và
nhất là trên thị trường thứ cấp đua nhau mua một cách phi chuyên nghiệp
và bị “cuốn hút” bởi các trò ảo thuật của các nhà đầu tư lớn sành sỏi
từ nước ngoài hoặc thậm chí của “người trong cuộc”. ở những trung tâm
kinh tế lớn hồi cuối năm 2006, đầu năm 2007: “người người chứng khoán,
nhà nhà chứng khoán” và trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư đã ra
sức “đánh bóng” không công cho Công ty phát hành, bất luận Công ty đó
“sức khoẻ” thực hư ra sao – Hiệu ứng đám đông dạo đó mạnh đến mức mà
“người ta” giám mua ngay cả khi giá cổ phiếu bình quân đã tăng lên tới
hơn 15 lần chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm “sản xuất và phát triển” của
Công ty phát hành! Từ hiện tượng trên, “vốn” từ các “kênh khác” dưới
nhiều hình thức chắc chắn đã “chảy” vào dòng sông cổ phiếu trên thị
trường lúc đầu là sơ cấp và sau đó đặc biệt là trên thị trường thứ cấp!
Hình như “tiền đẻ trực tiếp ra tiền”! Nếu vậy thì dân ta cần phải hô:
“tiền ở Việt nam muôn năm”! Một điều lạ nữa ở TTCK Việt nam là dường
như các nhà đầu tư chỉ chăm chú vào các chứng khoán vốn – Cổ phiếu và
rất lơ là với các chứng khoán nợ cũng như các nghiệp vụ phái sinh đến
từ các chứng khoán nợ đó! Thử hỏi thị trường cổ phiếu có phải là “quả
đấm” thép cho đầu tư phát triển sản xuất không? Câu trả lời là Không!
Bởi một lẽ đơn giản là người ta không thể huy động vốn điều lệ để ném
vào sản xuất, mà thiên chức của vốn điều lệ là “bành trướng” thế lực
của Công ty hay của NHTM làm vốn mồi hoặc vốn đối ứng mà nhờ đó có thể
thu hút các dòng vốn trong xã hội để đầu tư sản xuất. Chính lẽ đó, qui
mô của “tổng giá trị cổ phiếu” rút cục vẫn không thể vượt qua một danh
giới đủ lớn xung quanh ngưỡng hiệu quả sao cho vừa đủ để làm “chim mồi”
săn bắt một thế giới chim trời lớn hơn gấp nhiều lần nó...
Sự tự điều
chỉnh gần đây của TTCK đã thức tỉnh giấc ảo mộng vàng của nhiều nhà đầu
tư. Với sự thức tỉnh này, chắc chắn những vòng chu kỳ biến thiên giá
tiếp theo trên TTCK Việt Nam sẽ từng bước phản ánh đúng qui luật hơn –
Thị trường hàng hoá và dịch vụ chứ không phải tự TTCK điều chỉnh giá
của TTCK. Thế mới thấm thía quan điểm của K.Mac: “giai cấp tư sản không
thể tự làm giàu trên lưng nó được” càng đúng và hàm một ý rất sâu sắc
trong các giải thích về sự “lòng vòng” của các dòng vốn trong nội bộ
thị trường tài chính thì rút cuộc sẽ dẫn đến những bi kịch của chính
thị trường này. Nền kinh tế Việt nam đang cần bội lần vốn đầu tư so với
tổng giá trị “cổ phiếu” mà nhiều “nhà” đầu tư đang ra sức “đánh bóng,
mạ kền” hoặc kích động các cuộc “chạy tiếp sức” với kỳ vọng thu được
nhiều “lãi con buôn” hơn là thu từ cổ tức – Cái giá đích thực của cổ
phiếu! Các NHTM nếu không tỉnh ngộ trong việc chủ động kiểm soát tỷ lệ
dòng vốn vay chuyển từ mục đích đầu tư sản xuất sang đầu tư cổ phiếu
thì đương nhiên sẽ tiếp tục phải trả giá như nhiều NHTM đã phải trả một
cách quá đắt. Các dòng chảy của vốn từ nơi lợi ích thấp tới nơi có lợi
ích cao cũng là lẽ tự nhiên.
Theo đó, chắc chắn việc huy động vốn của các NHTM sẽ khó khăn hơn nhiều
so với việc cho vay ra. Vấn đề là “tăng” dư nợ vào đâu? Câu trả lời
chắc chắn nhất chỉ có người vay mới rõ. Tuy nhiên, không thể nghi ngờ
gì việc vốn đi vay sẽ chảy vào nơi kỳ vọng tạo nhiều lợi ích nhất cho
đến khi “tỉnh cơn say” mới vỡ lẽ rằng lẽ ra vốn vay phải chủ yếu đổ vào
các dự án sản xuất, dịch vụ khả thi. Buồn thay, khi người vay “tỉnh
ngộ” thì không những chính họ đã trọng thương mà còn “kịp” kéo theo cả
việc gây thương tích cho các chủ nợ của họ: Ngân hàng! Các NHTM chắc
không phải không biết điều đó? Vấn đề là hành động ra sao mà thôi. Rõ
ràng là thị trường tiền tệ, tín dụng và thị trường chứng khoán luôn có
những dòng chảy qua lại với nhau. Đây cũng là qui luật và là “vẻ đẹp”
về sự giao thoa giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Tuy nhiên,
nếu để các dòng chảy này tự phát phát triển thì nguy cơ của một cuộc
khủng hoảng tài chính “để thị trường tự điều chỉnh theo cách của bàn
tay vô hình” là không thể đảm bảo chắc chắn không xẩy ra, mặc dù rút
cuộc thị trường cũng sẽ đảo chiều và khởi sắc theo qui luật sau khi đã
vấp hoặc ngã gây thương tích nặng nề! Để ý rằng, TTCK không phải chỉ là
thị trường cổ phiếu.
NHTM hoàn toàn có thể “kích hoạt” cho TTCK bằng
cách tự mình khống chế một tỷ lệ đủ an toàn trong cho vay đầu tư cổ
phiếu và “lỏng hoá” các chứng khoán nói chung bằng cách tăng cường cho
vay đầu tư trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình bằng tài sản thế
chấp, bằng dịch vụ lưu ký trái phiếu và sẵn sàng “lỏng hóa” các trái
phiếu bằng tín dụng cầm cố trái phiếu và phát triển thêm các dịch vụ
phái sinh từ trái phiếu, cổ phiếu. Ngân hàng chỉ có thể hoạt động có
hiệu qủa khi kết hợp được dịch vụ tín dụng với các dịch vụ phi tín dụng
trên nguyên tắc mọi nẻo đường phải chắc chắn dẫn tới “Thành Rôm”, với
“Thành Rôm” được khẳng định là các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu
quả của nền kinh tế – Bản chất của lợi nhuận hay lợi tức thu được trong
thị trường tài chính bao giờ cũng là kết quả phân phối lại (chứ không
phải phân phối lần đầu) giá trị thặng dư được sáng tạo ra từ nền sản
xuất - Vị Giám đốc NHTM nào mà không hiểu điều đó. Nhưng vấn đề là ở
chỗ: “chính sách hóa” và đưa nó vào cuộc sống ra sao mới là cái mà cuộc
sống đang chờ! Thiết nghĩ các NHTM phải chủ động hơn là chờ NHNN buộc
phải can thiệp hành chính theo quyền lực để giúp các NHTM tỉnh ngộ...
- Chia thực trạng vấn đề tự do tài chính theo chiều ngang: Từ sau khi
có Luật đầu tư nước ngoài tại VN lần đầu tiên năm 1988 đến nay, về cơ
bản Việt nam là một nước “nhập khẩu tư bản” nước ngoài dưới hình thức
đầu tư trực tiếp là chủ yếu. Đến Đại Hội IX của Đảng năm 2001 đã coi
“khu vực có vốn đầu tư nước ngoài” là một trong 6 thành phần kinh tế
chính thức của Việt nam. Tốc độ đầu tư vào tuy không đều qua các năm,
nhưng đã hình thành một xu hướng tăng liên tục. Đặc biệt là từ đầu năm
2007 đến nay sau khi VN trở thành thành viên WTO thì tốc độ gia tăng
đầu tư nước ngoài vào VN đã rất mạnh trở lại so với những năm cuối thập
niên 90 của thế kỷ trước và ở qui mô cao hơn. Tổng vốn luỹ kế đầu tư
trực tiếp vào VN đã lên đến trên 50 tỷ USD – Trong đó, chỉ riêng lượng
vốn đổ vào trong vòng 1 năm qua đã chiếm tới 40%. Bình quân 10 năm lại
đây, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã: Tạo ra trên 25% tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng năm; Sử dụng gần 10% lao động công nghiệp; Tham
gia hơn 20% tổng đầu tư toàn xã hội bình quân/năm...Đã trực tiếp góp
phần làm cho nền kinh tế VN tiếp cận với công nghệ và trình độ quản lý
hiện đại của kinh tế thế giới. Tuy nhiên, qua những diễn biến “nóng,
lạnh” trên TTCK thời gian qua cũng đã cảnh báo cần phải có những giải
pháp thận trọng trong quá trình từ tự do hóa tài khoản vãng lai đến tự
do hóa tài khoản vốn.
Những động thái đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt nam cũng đã bắt
đầu hình thành và đang trở thành một “làn sóng” đầu tư thứ 3 từ nước
ngoài (sau FDI, ODA) được khởi xướng chính thức từ khoản “vay” 750
triệu tổng giá trị trái phiếu Chính phủ năm 2006 và dòng vốn đầu tư vào
TTCK VN từ giữa năm 2006 đến nay liên tục gia tăng, ước khoảng hơn 1 tỷ
USD “tiền gốc” quay vòng.
Giới hạn về tỷ trọng nắm giữ vốn sở hữu cổ phần trong các Công ty TC,
NHCP và NHTM Nhà nước sẽ cổ phần hoá thuộc lĩnh vực NH đã tăng từ 10%
lên “trần” 30% theo Nghị Định mới nhất - NĐ số 69/2007/NĐ-CP ngày
20/4/2007 của Chính Phủ V/v “nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTM
VN”.
Lộ trình nới lỏng các hạn chế về qui mô và lĩnh vực hoạt động của các
Định chế nước ngoài tại khu vực TC – NH ở VN theo cam kết WTO cũng đã
vạch rõ xu hướng cho các “dòng” chảy vốn theo chiều ngang giữa VN với
phần còn lại của thế giới:
- Tích cực áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế trong hoạt động
Ngân hàng th¬ương mại - Đặc biệt là chuẩn mực về kế toán, kiểm toán,
qui chế quan hệ bắt buộc giữa các Ngân hàng trung gian với Ngân hàng
trung ¬ương về tái cấp vốn, thị trường mở, thanh toán quốc gia và các
chuẩn mực về thanh tra - giám sát Ngân hàng;
- Mở cửa thị trường Ngân hàng, nới lỏng dần theo lộ trình các hạn chế
về quyền tiếp cận và nội dung hoạt động của chi nhánh cũng như Ngân
hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam bắt đầu được xem xét cho thành
lập từ 1/4/2007;
- Xoá bỏ dần, tiến tới xoá bỏ tối đa các giới hạn đối với các Ngân hàng
nước ngoài về số lượng đơn vị; hình thức pháp nhân; tỷ lệ góp vốn của
bên nước ngoài (tại NĐ 69 đã dẫn, ngoài tỷ lệ “trần” ghi ở điều 4, nhà
đầu tư nước ngoài còn được “mua lại” cổ phần của nhà đầu tư trong nước
theo điều 8.3); tổng giao dịch nghiệp vụ Ngân hàng; mức huy động vốn
VND; loại sản phẩm, loại dịch vụ Ngân hàng trên lãnh thổ Việt nam.
- Xây dựng khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp với luật lệ quốc tế
để tạo sân chơi bình đẳng cho các NHTM trên lãnh thổ Việt Nam cùng phát
triển và cạnh tranh lành mạnh...
Về “đầu tư ra nước ngoài”: Cho đến nay, việc “đầu tư” ra nước ngoài của
VN đã khá đa dạng dưới các hình thức: Liên doanh khai thác dầu khí ở
nước ngoài (hiện có 4 liên doanh); Ngân hàng liên doanh với nước ngoài
hoạt động ở cả “2 đầu” (có 5 NH liên doanh); Một số dự án từ nguồn ODA
và FDI của Việt nam dành cho một số nước láng giềng trong lĩnh vực xây
dựng cầu, đường và thuỷ điện; Mở tài khoản tiền gửi ở nước ngoài và;
Việc áp dụng các hình thức tín dụng thương mại khi xuất khẩu hàng hoá
ra nước ngoài v.v.Tất cả các hình thức trên còn rất khiêm tốn cả về
doanh số và không gian hoạt động. Thực ra, thuật ngữ “mở cửa” và “tự do
hoá tài chính” ở Việt nam hiện nay chủ yếu là “trải thảm đỏ” để đón vốn
vào hơn là đầu tư ra - Điều này cũng phản ánh đúng thực trạng của một
nền kinh tế đang phát triển ở giai đoạn đầu như Việt nam.
Về xu hướng tự do hóa tài chính trong nước: Chắc chắn sẽ phải vận động
theo sức hút của tiến trình tự do hoá tài chính không biên giới của thế
giới trong kỷ nguyên WTO. Các xu hướng rõ nhất có thể nhìn thấy và dự
báo bao gồm: Nới rộng các giới hạn về: Quyền của các thành phần tham
gia cung ứng dịch vụ Ngân hàng, tỷ lệ sở hữu cổ phần thông qua việc mua
cổ phần và các thương vụ mua, bán, sáp nhập; tỷ lệ chuyển tiền; điều
kiện tham gia mạng thanh toán quốc tế; sự hình thành các khu vực đồng
tiền chung; các giới hạn về biên độ tỷ giá; các hình thức thanh toán
qua biên giới...Để hiện thực hoá các xu hướng nói trên, chắc chắn sẽ
xuất hiện nhiều loại mô hình Định chế tài chính và nghiệp vụ mới theo
hướng: Chuyển mạnh từ đơn sở hữu sang đa sở hữu, từ Công ty hoá sang
Tập Đoàn hoá, từ chuyên doanh thuần sang đa năng và từ đa năng chung
chung (hạch toán gộp) sang “chuyên doanh” trong đa năng (phân cấp quản
trị kinh doanh theo nhóm sản phẩm, loại khách hàng và hạch toán độc lập
trong hạch toán tổng...).
Từ các xu hướng đã và đang phát triển nói trên, giải pháp để thúc đẩy
tự do hoá tài chính đối với Việt nam lúc này, tôi cho rằng cần bao gồm
đồng loạt các hình thức và hành động sau đây:
- Phải chủ động tự do hoá tài chính trên cơ sở: Minh bạch hoá mối quan
hệ giữa CSTT và CSTK, làm cho cả 2 chính sách này ngày càng lành mạnh
bằng cách trao nhiều quyền lực cho NHTW trong việc hoạch định và thực
thi CSTT. NHTW phải đủ sức và đủ công cụ để bảo đảm ổn định sức mua của
đồng tiền Việt nam; Đủ sức kiểm soát và làm chủ các nghiệp vụ chính của
NHTW như: Điều hành thị trường tiền tệ; Điều hành và kiểm soát toàn bộ
hệ thống thanh toán quốc gia; Đảm bảo trên đất Việt nam chỉ tiêu tiền
VN và nhanh chóng thực hiện lộ trình tự do chuyển đổi cho đồng tiền VN;
Đổi mới cơ chế và quyền lực trong hoạt động thanh tra – giám sát hoạt
động Ngân hàng của mọi loại Định chế tài chính (ngay cả khi có Uỷ Ban
giám sát tài chính ngoài NHTW);
- Mọi hoạt động có tính chất đầu tư của khu vực tài chính công phải
thực hiện thống nhất theo cơ chế thị trường, đều phải bị điều chỉnh
thống nhất bởi Luật chuyên ngành về Ngân hàng; Hạn chế dần và có kỷ
cương minh bạch, công khai về các hoạt động tín dụng chính sách ưu đãi
đối với khu vực thuộc đối tượng chính sách ưu đãi của Nhà nước; Thống
nhất một mạng thanh toán quốc gia đối với mọi Pháp nhân có quan hệ
thanh toán với Ngân hàng, kể cả khu vực NSNN và khu vực tài chính Nhà
nước ngoài NSNN.
- Cần phải đứng trên lợi ích của Nhà nước để dẫn dắt thị trường bằng
cách có chính sách “dãn” rộng hơn khoảng cách giữa các lần cổ phần hoá
từng NHTMNN hay từng DNNN nếu không, một bộ phận tài sản của Nhà nước
sẽ có xu hướng rơi vào tay cá nhân các nhà đầu cơ!
- Đào tạo và từng bước phổ cập kiến thức phổ thông về cung ứng và “mua”
các dịch vụ tiện ích từ Ngân hàng. Mở rộng việc chuyển quan hệ tín dụng
trực tiếp giữa cá nhân với Ngân hàng sang quan hệ tín dụng gián tiếp
thông qua các Công ty, Nhà máy chế biến, Tập đoàn công nghiệp, Tập đoàn
thương mại đồng thời có chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ việc
mở tài khoản thanh toán qua Ngân hàng của cả Pháp nhân và thể nhân để
cùng với các giải pháp công nghệ nhanh chóng nhất thể hóa thẻ thanh
toán trên lãnh thổ Việt nam ...
Tóm lại: “tự do hóa” tài chính là quá trình nới lỏng những hạn chế về
các quyền tham gia, cũng như tiếp cận dịch vụ trên TTTC cho các bên
kiếm tìm lợi ích trong phạm vi kiểm soát được của Pháp Luật. Tự do hóa
tài chính do đó trước hết luôn gắn chặt với năng lực minh bạch và khả
năng kiểm soát lưu thông tiền tệ, khả năng thanh tra giám sát các dòng
chu chuyển vốn trong nền kinh tế cũng như chu chuyển vốn giữa trong
nước với nước ngoài của NHTW để thúc đẩy nền kinh tế nói chung, các chủ
thể kinh tế nói riêng ngày càng phát triển một cách vững chắc. Điều đó
cũng có nghĩa: không thể có cái gọi là tài chính tự do hoàn toàn ở bất
kỳ quốc gia hay tổ chức kinh tế quốc tế nào.
Mức độ tự do hoàn toàn phụ
thuộc vào năng lực quản trị, công nghệ, kiểm soát rủi ro và tính minh
bạch trong các quan hệ theo Luật pháp liên quan ở trong nước và thông
lệ quốc tế từng thời kỳ phát triển. Mặt khác, tự do hoá tài chính cũng
là một xu thế khách quan không thể nhẫn nại “ngồi chờ” sự hoàn thiện
năng lực và môi trường Luật Pháp của từng quốc gia thành viên WTO, vì
vậy nhất thiết Việt nam phải chủ động và tích cực tiếp cận với tự do
hoá tài chính bằng một thái độ kiên quyết và cẩn trọng cần thiết nhất
có thể được.