Chủ Nhật, 26/04/2009, 14:23 GMT+7
Hữu thể luận - Với Platon (phần 2)
Theo lộ trình ý thức của Platon thì ngay khi con người nhìn nhận bất cứ sự vật nào, đầu tiên, người ta sẽ phỏng đoán. Sau khi “Trăm nghe không bằng mắt thấy” người ta xác lập sự tin tưởng sau đó người ta trên tinh thần nguyên lý đối thoại chà sát qua chính biện và phản biện của tâm hồn. Cuối cùng người ta tự đối thoại với mình trên tinh thần biện chứng của công lý, nghĩa là con người đối thoại với mình như đối thoại với người khác để tìm giá trị phổ quát.
Huu the luan - Voi Platon..
Quá trình tư duy tiếp cận hữu thể của Platon đã được Hegel tôn sùng rằng: “Platon là người đầu tiên tuyên bố rằng chỉ có ý niệm là chân thực và phổ biến và chính nó là cái cụ thể phổ biến” (20)

Theo nhận định của Hegel, thì ý niệm là cái xông xáo vào hữu thể, và chẳng cái gì khác ngoài nó sẽ đo lường bản chân của hữu thể thật hay giả và chính điều kiện chân lý của nó luôn luôn phải dính mắc vào cái phổ biến - tức suy tư cách chung - cách là công lý. Bởi thế mọi người dù suy tư sự vật riêng rẽ của mình, muốn đạt tới sự thật, người ta luôn phải mật thiết liên hệ đến cái chung và tự thân luôn đóng vai “cái cụ thể phổ biến”.

Platon bàn về hữu thể tự thân: “Một hữu thể thuần khiết không thể ngừng hiện hữu: một hữu thể như vậy không phải là hữu thể bị giảm trừ, ông nói, tóm lại nó chẳng thể mất dần cái gì đó thuộc hiện hữu của nó, cũng như thuộc cách thức khiến nó trôi tuột thành trống rỗng” (21)

Ông quan niệm bản tính của vật thể trước hết là: Khả thị tính của nó phát giác nó cho đến khi nào yếu tính của nó lộ ra bằng thị giác “Yếu tính là khả thị tính của các vật thể. Những vật thể chỉ có thể gặp gỡ được là khi yếu tính giúp nhìn được chúng” (22)

Và ông là người theo Gewindment nói đã khai trương khoa siêu hình học cổ điển đầu tiên khi đưa vật thể từ khả giác qua siêu vượt: “Platon là người đầu tiên đã quan niệm rằng phải suy tư về hữu thể bằng cách siêu vượt từ vật thể khả giác để vươn tới vật hữu tính của chúng” (23)

Platon còn được coi là người cha của duy niệm tuyệt đối, khi tìm cách đặt lý trí và hữu thể vào trong dòng chảy về lý tưởng: “Vật khả giác là tương đối hiện thực với khả trí chỉ khi nó tham dự vào một hiện thực lý tưởng và một mô thức khả trí” (24) . Ông đã nói một câu nổi tiếng: “Một bông hoa chỉ đẹp khi nó tham dự vào cái đẹp lý tưởng”. Chúng ta đã bàn định cấp độ về hữu thể và nhận thức của Platon nay xin bàn tiếp mang tính kỹ thuật khá chi tiết sang cõi bên kia rất quan trọng của hữu thể đó là phi hữu thể. Để làm sáng tỏ phần này, tôi xin nếu ra những ý kiến quan trọng của các triết gia khác vì đây chính là lúc đề tài xuất hiện để mọi triết gia cùng bàn định (các phần khác của cuốn sách cũng viết theo lối này).

Hữu thể là être. Phi hữu thể là non-être, có nghĩa “Không là”. Phi hữu thể ở mức quan niệm nào đó đồng nghĩa với hư vô (néant), nhưng để tránh sự xa lạc nhiều người quan niệm “hư vô là cõi không có tất cả” trong cuốn “Hữu thể và hư vô” (l’être et le néant) của mình. Sartre minh định: không có hư vô là cõi không có tất cả, chỉ có hư vô là hư vô của hữu thể. Về điểm này, để xứng đáng là người sáng lập hữu thể và phi hữu, Platon minh giải: "Có phi hữu thể của hữu thể nhưng không phải với ý nghĩa của phủ định tuyệt đối, một hư vô, cái mà chúng ta phán xét không đẹp chỉ là cái khác liên quan đến cái đẹp. Không phải là liên quan đến bất cứ cái gì xa lạ". (25)

Từ quan điểm của Platon có thể suy diễn: hữu chiều cao chẳng hạn, phi hữu của nó có thể là chiều thấp nhưng có thể vẫn có độ dài, “giàu”chẳng hạn, phi hữu của nó có thể là “nghèo” nhưng không phải không có một xu dính túi. Để tránh lạc hướng chúng ta hãy xét thẳng vào quan niệm của Platon: Nếu hữu thể là đẹp thì cái phi hữu của nó không thể là cái nghèo, cái thô lỗ, mà là cái không đẹp xét theo hệ quy chiếu của chính cái đẹp. Về điểm này Sartre cũng bày tỏ quan điểm khá đồng tình: “Hư vô là khả tính riêng rẽ của hữu thể và khả năng độc nhất của nó” (26). Và “Khả tính riêng rẽ của hữu thể - cái tự phát hiện trong hành động hữu vô hóa… cái vị thân (tức cái cho nó “pour soi” đó là cái tự thân (en soi) đang tự đánh mất mình để tự xây lên mình giống như ý thức" (27)

Phi hữu thể là cái phi của chính hữu thể chứ không phải tất cả những gì khác nó, bên ngoài nó. Bởi thế hư vô cũng là hư vô từ đó hữu thể đi ra, chứ không phải là một hư vô trống rỗng chung chung. Platon bàn: “Cái không tham dự là lý do hữu thể tối hậu của cái tham dự” (the unparticipating is the ultimate raison d’être of the participating). Và triết gia kant đã nhúng vào cuộc theo cách quan niệm về một hư vô xác định. Ông nói “Nhìn hư vô từ đó sự vật được rút ra” (28) (de voir le nesant d’ont il ét tiré)

Sartre cũng viết: “Hữu thể bởi nó hư vô đến thế giới phải là hư vô của riêng nó(29), ông bàn tiếp: “Vậy thì hư vô hóa là hư vô hóa của hữu thể, thể hiện sự liên lạc nguyên nguồn giữa hữu và cái vị thân và hữu của cái tự thân” (30)

Bên trên, chúng ta đã nghe Kant bàn về một hư vô từ đó sự vật được rút ra. Giờ chúng ta hãy nghe Descartes và Hegel quan niệm về hư vô.

Descartes diễn giải: “Hư vô của con người là tự do” (c’est la liberté) (31)

Tự do của con người là khả tính gần như tuyệt đối để con người quyết định mọi việc, và trở thành mọi sự. Vậy trước khi con người giống cái mà anh ta quyết định, tự do là một hữu vô. Từ đó, hữu thể đi ra để trở thành hữu thể. Về điểm này, Sartre quan niệm con người là diện mạo mà anh ta đã làm nên. Muốn vậy, trước hết con người phải quyết định việc sẽ làm và trước cả quyết định đó, con người phải được tự do. Mà hữu con người là hữu tự quyết, hữu hành động, hữu trở nên mình. Vì thế, hưu vô của con người phải là tự do, đó là điều kiện để con người bước ra quyết định diện mạo của chính mình.

Về điểm này, Hegel tìm cách lý giải kỹ hơn: “Tự do của tinh thần, theo cách tinh thần là mực thước trung gian và có nghĩa là phủ định” (Hegel affirme la liberté de l’esprit, dans la mesure ou l’esprit est la médiation, c’est-à-dire le Négatif) (32)

Theo quan điểm của Hegel, tự do nghĩa là lựa chọn, ở đó nó có thể chọn cái đó, hoặc phủ quyết chính cái đó. Nhưng quyền tối cao của tự do, khi phủ định chính một hữu thể, nó làm ra hư vô của hữu thể ấy. Như vậy, quan điểm của ông cũng khá đồng tình với Descartes, ở chỗ tự do có thể phủ định - như vậy nó là điều kiện “trái chiều” làm nên hữu thể, nó là một hư vô.

Sartre bàn về một sự phủ định như sau: “Sự phủ định giống như cấu trúc của mình để xác nhận nó có phải là nguồn gốc của hư vô hoặc là trái lại, hư vô có phải là cấu trúc của cái thực, cái là nguồn gốc và nền móng của cái phủ định” (33)

Để diễn giải và dễ hiểu hơn, Sartre quan sát sự vắng mặt của một con người hay một sự vật, như là một hữu thể vắng mặt, để phát giác chính nó. Chúng ta vẫn thường biết một phương ngôn nổi tiếng “Chỉ khi một vật mất đi chúng ta mới nhận ra hoàn toàn nhận ra sự cần thiết của nó”. Chẳng hạn một học sinh vắng mặt trong lớp học, sự vắng mặt của anh ta không phải sự vắng mặt của một sĩ số vô cảm mà là một nhân tính - một cá tính - một mối ưu tư cụ thể liên quan đến người khác (có thể một cô học trò nào đó nhớ anh ta, một bạn trai muốn rủ sau giờ học đi đá bóng hay một người muốn đòi nợ). Sự vắng mặt của anh giống như một phi hữu của chính anh liên quan mật thiết với hữu thể hiện diện của mình. Sartre nói: “Sự vắng mặt cũng phát giác hữu thể bởi nó không phải là hữu thể đó, nhưng vẫn còn là hữu thể đó” (34)

Ông lý giải: “Trong trường hợp vắng mặt quả thực tôi tự tạo nên xác định bởi một hữu thể mà tôi không là, và là cái không là, hoặc không là đó nói lên xác định tôi giống như một lỗ hổng nhờ đó tôi sẽ gọi lên đầy ắp sự thực nghiệm của mình” (35)

Sartre bàn tiếp về hữu thể: “Hữu thể và hư vô là những trừu tượng trống rỗng và cái này cũng trống rỗng như cái kia ở trong cặp của nó” (36).

Và: “Chúng ta phải từ chối đặt hữu thể và phi hữu thể trên cùng một mặt bằng, nhưng chúng ta cũng luôn chú tâm rằng không bao giờ đặt hư vô giống như một vực thẳm nguyên ủy từ đó hữu thể đi ra” (37)

Chúng ta vừa đi qua chặng đường chính yếu nhất, khó nhất, chuyên biệt nhất của triết học, đó là: Hữu thể luận, kèm theo, phi hữu thể luận. Hành trình, mở màn của Parménide. Tiếp theo, Platon là người đã có công khai nguồn hữu thể với “kỹ thuật” dùng lý trí thâm nhập hữu thể. Tiếp đó, ông khai sinh “mặt trái” của hữu thể, với phương ngôn chí tử: “Phi hữu thể tự thân cũng là hữu thể”. Và đặt nền móng cho tương quan thâm nhập lẫn nhau giữa hữu thể và phi hữu nay để kết thúc chương này thêm một lần nữa chúng ta lại rà soát thêm về hành trình gian khó nhất này qua các triết gia.

Triết gia Heidegger cho rằng: “Hữu thể là ý niệm phổ quát nhất không thể định nghĩa được là một ý niệm hiển nhiên”.

Để tránh lạc lối vào những tư duy trừu tượng xa lánh hữu thể cần quan sát, Bakeley nói: “Hữu thể là một hữu thể cầm nắm” (être est un être tenu) (38)

Và Aristore thì chú mục: “Hữu thể là vật thể xét theo vật thể”.

Hữu thể ít nhất phải mang bản tính cố hữu bất động tương đối của nó. Hữu thể thiếu chẳng hạn nó không thể vận động để làm đầy lên, cũng không thể khao khát thành đầy hơn, cũng không thể tiêu dùng mình thành thiếu thốn hơn. Sartre nói về hữu thể thiếu: “Nó là cái thiếu tất cả những gì nó thiếu nhưng không phải chính sự thiếu” (39)

Sartre bàn về hữu tự thân: “Hữu tự thân đầy ắp chính nó và người ta không còn biết tưởng tượng nhiều hơn nữa về cái toàn thể, nó đầy đủ vẹn toàn từ nội dung đến cái chứa đựng nó, không có trống rỗng dù nhỏ trong hữu thể và một chút kẽ hở để hư vô có thể lọt qua” (40)

Về phi hữu thể, Sartre cho rằng, nó đan cài và sửa soạn hạ sinh cho hữu thể đến mức: “Nếu tôi đợi sự phát giác của hữu thể thì cùng lúc tôi chuẩn bị cái phi hữu thể” (41)

Hữu thể - phi hữu, đó là đề tài được sửa soạn hạ sinh ngay từ trong nhận thức: “Đối lập giữa hữu thể và hư vô giống như giữa tiền đề và phản đề” (42) hoặc là: “Nhưng cái phi hữu không phải là cái trái ngược với hữu thể mà là sự mâu thuẫn của nó” (43)

Sartre chỉ rằng “Chỉ có phi hữu thể hiện trên bề mặt hữu thể” (44)

Một cách kỹ lưỡng hơn, Sartre bàn: “Mối liên hệ của hữu thể và phi hữu thể chỉ có là nội tại. Đó là hữu thể theo cách mà hữu thể pha nổi colên trên phi hữu thể trong cái phi hữu thể thì hữu thể phải chỉ ra và điều đó không phải là một công việc, một lề luật tự nhiên mà chỉ là công cuộc nổi lên của hữu thể cái là hư vô riêng rẽ của nó về hữu thể” (45)

Để kết thúc phần hữu thể và phi hữu thể tôi xin dẫn ra một câu nói rất bao trùm của Hegel: “Chẳng có gì trong bầu trời và mặt đất không chứa đựng hữu thể và hư vô. Nó chỉ là ý tưởng thuần túy” (Grand logic chap 1) (46)

Anh A có thể vắng mặt trong lớp học nhưng vẫn có mặt ở ngoài cuộc đời. Nghĩa là xét tổng quan trên phương diện thuộc tại tự thân anh A luôn luôn có mặt chính mình ngay cả khi ngủ. Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể như lớp học chẳng hạn, sự vắng mặt của anh A có thể được tham xét như một phi hữu của chính hoàn cảnh đó. Việc ấy rất cần thiết cho tư duy. Bởi thế dù là hữu hay phi hữu, cho dù chúng rất chìu tượng và khó nắm bắt, nhưng chí ít, chúng ta hãy nắm bắt chúng trong tư duy của mình theo cách của Hegel "Nó chỉ là ý tưởng thuần túy", một sự phân biệt duy niệm thuần lý, để chúng ta tra xét về một đề tài hữu thể của vật nào đó và cái phi hữu của chính nó khiến nó nổi lên hoặc là biến mất.

bantinsom.com ( theo chungta )