Chủ Nhật, 26/04/2009, 14:21 GMT+7
Hữu thể luận - Với Platon (phần 1)
Phần hai: Hữu thể luận với Platon (427 - 347 trước Jesus Christ) I - Toát yếu về con người và tư tưởng Platon là học trò của Socrate ông chăm chú theo dõi vụ án của thầy mình. Khi Socrate uống độc dược thì rủi thay, Platon lại không có mặt ở đó, chính thế ông càng hun đúc dựng lại sự nghiệp của mình. Socrate không viết sách. Hầu trọn sự nghiệp đối thoại triết học của ông với mọi người được Platon làm sống lại trong 25 cuốn sách và vô số thư từ đặc biệt có cuốn “Biện hộ cho Socrate” (Aplogie de Socrate) và Phédon khá đồ sộ và trọn vẹn chính nhờ những cuốn sách của mình, Platon đã sáng lập mái trường triết học của chính mình ở bên ngoài thành phố Athènes.
Huu the luan - Voi Platon..
Mái trường đó đã ra đời trong khu vườn mang tên người anh hùng Hy Lạp Académos nhờ thế nó có tên gọi là Académie - Viện hàn lâm. Tại viện hàn lâm của Platon, người ta giảng dạy triết học, toán học và thể dục. Tranh luận là mũi nhọn của viện hàn lâm. Bởi thế, thể loại văn học cải tiến với Platon là đối thoại.

Về vũ trụ quan nói chung, Platon chấp nhận mọi thứ có thể biến đổi nhưng ông quan niệm có một thứ bất biến vĩnh hằng, đó là khuôn mẫu của vạn vật. Chẳng hạn loài chim, loài chó, loài ngựa, các vật chất, các nguyên tử của vũ trụ có thể được ra đời từ những khuôn mẫu có trước chúng. Những khuôn mẫu đó là tinh thần, theo cách quan niệm của Kant là cái “tiên thiên” hay của Hegel là “ý niệm tuyệt đối”. Như vậy tiếp theo Socrate, Platon chủ trương nhắm tìm một thế giới của linh hồn bất tử. Ông quan niệm, con người có phần xác và phần hồn. Phần xác gắn chặt vào thế giới giác quan và có chung định mệnh với trần gian (một cái bọt xà phòng chẳng hạn). Theo đó, vì giác quan gắn với thể xác nên ít đáng tin cậy. Phần hồn là chúng ta có một linh hồn bất tử là trụ sở của lý tính. Chính vì linh hồn không có tính vật chất nên nó có thể thấy được thế giới ý tưởng.

Về tư tưởng căn bản của Socrate - lý trí - sự khôn ngoan và đức hạnh, Platon cũng phát triển tư tưởng của mình theo hành trình đó. Ông phúng dụ về “cái hang” tất yếu của nhận thức con người. Theo ông khi con người phải đi trong hang tối, họ sẽ không thể phân biệt rành rẽ để làm bất cứ điều gì. Khi họ thắp đuốc lên, họ nhìn thấy lờ mờ và họ lần mò hành động một cách lờ mờ. Chỉ khi nào ánh dương chiếu vào soi tỏ mọi thứ, lập tức giác quan của họ phân biệt chắc chắn, lý trí phân định minh bạch. Và người ta quyết định hành động một cách đàng hoàng. Khi lý trí được soi tỏ - để lựa cái tốt bỏ cái xấu - con người quyết định hành động xác đáng: đó chính là đạo đức. Về đạo đức, người Trung Hoa vẫn nói “Thiện - Hảo”, người Việt nói “Tốt - lành” là phần nào cũng hàm chứa ý nghĩa của đạo đức.

Một cách tất yếu hơn, khi mọi vật được tồn tại như sự thật về nó, khi con người được sống - phải sống như sự thật về mình: đó là chân lý - công lý - cũng là đạo đức. Người Việt vẫn nói về sự sáng tỏ của đạo đức như sau: “Hai năm rõ mười”. Và nói về tính công lý sáng tỏ của mọi giá trị và hành động: “Thanh thiên bạch nhật”. Cái trái ngụy, cái giả tạo, cái tội lỗi chỉ là cái hành động trong bóng tối (cả nghĩa đen và nghĩa bóng) người ta tìm cách đánh tráo một sự thật hay một chân giá trị.

Platon nghiệm rằng cơ thể con người chia làm ba phần: đầu, mình và phần dưới cơ thể. Đầu là trung tâm của lý tính, mình của ý chí và phần dưới của những thèm muốn hoặc ước vọng. Mỗi tính chất của linh hồn (nằm theo bộ phận) tương ứng với một lý tưởng hay một đức hạnh.

1- Lý tính phải hướng đến sự khôn ngoan
2- Ý chí phải thể hiện sự dũng cảm
3- Và con ngươì phải kiềm chế ước muốn để biểu thị sự điều độ.

Trong toàn bộ triết học của Platon, triết học về Nhà nước của ông thiên về chủ nghĩa thuần lý. Một quốc gia tốt đẹp nhất thiết phải được thống trị bằng lý tính. Như cái đầu điều khiển cơ thể. Các nhà triết học phải nắm quyền điều hành xã hội.

Ông lập ra một bản sơ lược về sự tương đồng giữa ba phần cơ thể và quốc gia:

Cơ thể

Linh hồn

Đức hạnh

Quốc gia

Đầu

Lý tính

Khôn ngoan

Bảo vệ

Tim

Ý chí

Dũng cảm

Chiếm hữu

Bụng

Nhu cầu

Điều độ

Cần lao

II - Platon và vấn đề hữu thể luận

Chúng ta đang đi vào đối tượng chính yếu nhất của triết học, nó là xương sống, là hành trình xuyên suốt, là vấn đề cốt tử, là ánh sáng bao trùm của triết học. Cơ thể nói: Triết học là khoa học về hữu thể. Hữu thể là gì? Chúng ta đã bàn định ở chương I “Triết học là gì”? Nay chúng ta sẽ rà soát kỹ lưỡng về bản tính của hữu thể.

Nói một cách giản dị, khi chúng ta muốn bàn đến, nói đến bất kỳ một sự việc gì trên đời, trong vũ trụ thì chúng ta phải nên “cái đó” ra - đó chính là một hữu thể. Nó là: cái có, cái là. Về tầm quan trọng của hữu thể chúng ta hãy nghe các triết gia bàn định.

Trước hết người Hy Lạp cho rằng: “Tất cả là hữu thể” (tout est être)

Tất cả vũ trụ, cho đến đời sống của chúng ta mỗi ngọn cỏ, mỗi cá nhân, mỗi ý nghĩa… nếu không có thật - như là thật, thì có gì để bàn, để nghiên cứu, để ứng dụng? Và hữu thể cần có thật - hiện diện thật và đòi hỏi một bản tính thật cho nó, cho dù cái hão huyền có thể là giả tạo với người này hay người khác nhưng chính sự giả tạo cũng đã xuất hiện, có bản tính thật của nó, giống như một kẻ dối trá cũng hiện diện ở trên đời. Bởi thế, hữu thể là con đường tất yếu dẫn đến chân lý.

Như ngạn ngữ Latinh nói: “Hữu thể và chân lý có thể đảo ngược cho nhau” (Ens et verum convertunture hay l’être et le vrai sont convertibles)

Hay như Triết kinh viện nói “Hữu thể và chân lý là một”.

Triết gia Jean Paul Sartre nói “Chẳng có gì trong nhận thức cái không phải là nhận thức về hữu thể” (rien n’est dans la conscience qhi ne soit conscience d’être). (21)

Và hữu thể chính là cả trong và ngoài bản tính của chính nó. Đó là cái duy nhất chứa đựng sự thật về nó. Hegel nói: “Bản chất là phản ánh của chính nó và trong bản thân nó” (24). Còn Sartre chỉ ra: “Bản tính ít ra là nguồn gốc khả chân, hữu thể về nền móng của nó, hữu thể trải qua trong bản tính(31)

Triết gia Heidegger nói về hữu thể như sau: “Con người là mục tử của hữu thể” (le berger de l’être)(4). Và “Hữu thể là chủ yếu trong chân lý” (L’êt - la est essentiellement dous la vérité)(5).

Và Platon là người hơn ai hết chủ trương “Chân lý trước hết là hữu thể luận (la verité est d’abord “on to logique”), vậy thì, chân lý là song hành, dựng lên từ đối thoại và hữu thể (6)

Chúng ta đã bàn đến sự thiết yếu của hữu thể. Nói đến hữu thể, nghĩa là nói đến bản tính (bản thể) và chân lý. Vậy để nắm bắt vấn đề một cách hệ thống chúng ta hãy lần trở lại với Parménide người đầu tiên xếp nền móng cho hữu thể. Để mở màn cho con đường của hữu thể, ông xác định: “Trên con đường chân lý, người tuyên bố sự đồng nhất của hữu thể và tư duy(7)

Trước hết để khởi đầu cho khoa học về hữu thể, Parménide quan niệm: “Không gì trở thành cái gì khác với cái nó vốn có”(8)

Quan niệm này của ông không chỉ dành cho hữu thể duy niệm, hoặc tính vấn đề của hữu thể mà là dành cho hữu thể hiện thực, ông nói: “Hữu thể tương ứng với thực tại” (Être qui corresponde à la réalité)(9)

Ông lý giải: Thiên nhiên mang lại những hình dạng biến đổi không ngừng. Giác quan của ông nhận ra sự biến đổi đó thế nào. Nhưng lý tính của ông lại giải thích cho ông cách khác. Và bởi khỏi phải chọn lựa giữa giác quan và lý tính, ông thích tin vào lý tính của mình hơn. Nước chẳng hạn muôn thủa vẫn là nước. Ngọn nửa cách đây triệu năm chẳng lẽ lại không mang thuộc tính gây cháy như ngày nay?

Sau ông, nhà bác học Empédocle (khoảng 490 - 430 trước Jésus Christ) cho rằng Thiên nhiên có bốn chất cơ bản, ông gọi là “rễ”. Bốn cái rễ đó là đất, không khí, lửa và nước. Tất cả những gì chuyển động trong thiên nhiên đều do sự trộn lẫn và sự tách biệt của bốn nguyên tố đó. Bốn chất không thay đổi chỉ có tỉ lệ thay đổi. Khi một cánh hoa hay một con vật chết, nguyên tố đó lại tách ra. Điều đó có thể trông thấy bằng mắt trần. Nhưng đất, không khí, lửa hoặc nước tự chúng không thay đổi, chúng bình yên vô sự trước mọi cuộc hóa thân đó, nói rằng tất cả đều biến hóa là không đúng. Thật ra không có gì thay đổi, chỉ có 4 nguyên tố hợp nhất và tách biệt nhau trước khi lại trộn lẫn vào nhau(10)

Hữu thể duy thực đã không biến đổi thì hữu thể duy niệm cũng lại càng không thể biến hình Parménide nói: “Hữu thể không thể bị chia cắt, bởi vì nó là tất cả sự đồng nhất trong chính mình. Nó không chịu đựng sự gia tăng của cái gọi là trái nghịch trong sự kết hợp của nó, cũng chẳng chịu giảm đi, nhưng trong tất cả nó làm đầy hữu thể, nó cũng hoàn toàn tiếp diễn bởi vì hữu thể là tiếp cận với hữu thể(11)

Và: “Hữu thể là phi tạo, không mục ruỗng bởi vì nó là hoàn hảo, bất động và vĩnh cửu bởi vì người ta chỉ có thể nói nó đã là hay nó sẽ là bởi vô cùng nó nằm trong tất cả thời khắc hiện tại, một thứ, kế tục… hữu thể không có sinh ra, cũng không có bắt đầu”(12)

Để hiểu quan niệm “hữu thể không có sinh ra và không có bắt đầu”, chúng ta thử diễn giải: Hữu thể thời gian chẳng hạn, nó bắt đầu từ đâu? Hữu thể không gian sinh từ lúc nào? Đơn giản hơn, nếu tôi vẽ một tam giác, sự vẽ của tôi được bắt đầu nhưng cái tam giác 1800 đó luôn luôn có trước rồi, nó như một hữu thể cố định mà nếu tôi chỉ vẽ hai đường gặp nhau thì là một góc hở chứ không phải tam giác. Ánh sáng và bóng tối cũng vậy, khi tôi bật diêm tôi có thể tạo ra ánh sáng, song không thể nào làm ra hữu thể ánh sáng, vì bản thể của ánh sáng đã hằng có chủ nhân trước muôn đời.

Khi một đường thẳng bị cắt hở - gián đoạn nó sẽ tạo thành vô số đoạn thẳng chứ không phải hữu thể đường thẳng liên tục mà chúng ta muốn xem xét đó là cách mà Parménide muốn khẳng nhận hữu thể không thể bị biến dạng để không còn là chính nó ông nói: “Hữu thể theo cách thức phủ định bởi một chuỗi trước từ không sáng tạo ra không kết cục, không thời gian, không giai đoạn, không trở thành” (13)

Và ông xác định hữu thể không thể rằng hữu thể là vô hạn, quả vậy hữu thể nó chẳng thiếu gì cho nó, và nếu nó là vô hạn nó sẽ thiếu tất cả (14)

***

Từ nền móng Parménide chúng ta hãy xem Platon thừa kế và xây dựng quy mô nhận thức về hữu thể ra sao. Trước hết Platon quả quyết hữu thể nhận thức như các quan hệ toán học chẳng hạn, không bao giờ biến đổi. Tổng các góc trong một hình tròn phải mãi mãi là 3600 và một tam giác luôn luôn là 1800. Nhưng Platon không phải là một chuyên gia về hữu thể một chiều, ông còn là chuyên gia của mặt trái của hữu thể, tức phi hữu thể. Ông tuyên bố một câu nổi tiếng, một lời chưa từng có: “Phi hữu thể tự thân cũng là hữu thể”.

Chúng ta hãy giả dụ, một cái ao đầy nước, trong đó có hữu thể nước. Đến một ngày cái ao cạn sạch nước nghĩa là trống rỗng nước có thể coi là hư vô của nước, hay phi hữu thể của nước, vậy sự trống rỗng đó vẫn có. Nói một cách bao hàm hơn, mọi hữu thể ở trên đời đều có, mọi thứ vô -phi hữu thể về nó vẫn có. Chẳng hạn, theo quan niệm của Sartre “Cơn khát” khi không được uống nước - nếu coi là hư vô của việc "thỏa khát" vẫn tồn tại trong con người chúng ta "đồng đẳng" với cảm giác đang uống nước. Và Platon phát biểu về phi hữu thể: “Giữa hữu thể và phi hữu thể thuần lập một chuyển đổi” (entre l’ être et le non-être s’etablit une sorte d’échange) (15)

Platon quan niệm, thế giới vật thể “biệt ly” ngoài ý thức của con người “Vật tự thân chẳng có gì ngoài việc có thể cảm nhận bằng tư duy” (ces choses en soi que nul ne pent apercevoir que par lapensé)(16). Ông tuyên bố về cách thức nhận biết hữu thể “Cần thiết thấy rằng chính linh hồn là cái cảm nhận và lý trí dựa trên những tự giác trong quan hệ với hữu thể và việc sử dụng(17). Và ông là người đầu tiên xác định cấp độ của hữu thể và nhận thức:

Cấp độ hữu thể: Degrés de l’ être

1- Khả thị: images copies
2- Khả giác: choses sensible
3- Đối tượng toán học: objets
4- Ý tưởng: idées

Cấp độ của nhận thức: Degrés de la connaissance

1- Phỏng đoán: Conjecture
2- Tin tưởng: Crogance
3- Suy lý: Pensée discarsive
4- Biện chứng: Pensée dialectique

bantinsom.com ( theo chungta )