|
Chủ Nhật, 26/04/2009, 14:08 GMT+7
Linh hồn, lý trí và hữu thể với Aristote
Phần III: Đồng nhất luận và tam đoạn luận, phép loại suy với Aristore Aristore - người thầy của những nhà thông thái (le maitre de ceux qui savent)(1) sinh tại xứ Thrace Hy Lạp. Năm 17 tuổi đến Athène thụ giáo Platon. Sau khi Platon mất (347) được mời đến triều đình vua Philippe xứ Macesdoine, trông coi việc giáo dục hoàng tử sẽ trở thành Alexandre Đại đế sau này. Từ năm 335, ông trở lại Athène dựng ra trường học gọi là Lycée. Mới đầu ông dạy theo lối vừa đi dạo vừa giảng cho học trò (do đó có danh từ Perita testisme, tiêu dao chủ nghĩa để chỉ cái phương pháp dạy ấy cũng như cái học phái của ông).
Ông là thiên tài bác học đa dạng đầu tiên trong lịch sử. Ông là cha đẻ của khoa luận lý học. Ông dựng ra khoa Siêu hình học và nghiên cứu đủ các vấn đề luân lý, chính trị, khoa học tự nhiên (2). I - Aristote với linh hồn, lý trí và hữu thể Mở màn Aristote đánh giá rằng: “Mục đích của đời sống nhân loại là suy tưởng, đó là khi sống bằng cuộc sống của tư duy con người sống một cách thánh thần” (Aristote es time aussi que le lnt de la vie humaine est la ontemplation, c’est en vivant de la vie de la pensée que l’homme vit divinement(3)
Kế tục Socrate và Platon, Aristote cho rằng điều kiện
đầu tiên để bước vào triết học là con người phải luôn biết ngạc nhiên
trước thế giới. Đó là: “Khao khát hiểu biết sinh ra từ nỗi ngạc nhiên trước sự kỳ diệu của thiên nhiên dẫn con người vào con đường triết học” (The desire to know, begotten by wonder at the marvels of nature led men to philosophy) (4) Khởi nguồn, Aristote tìm đặt nơi cao nhất cho ngọn đèn của linh hồn, đó cũng là cách mở đầu thiết lập ánh sáng chủ tri. Ông cho rằng, linh hồn tồn tại như một nguyên lý sống tất yếu trong mọi cơ thể: “Linh hồn là thực tại nền tảng của một cơ cấu cơ thể tự nhiên” (Soul is the basic actuality of a natural organic body) (5)
Hơn cả thế, ông cho rằng: “Linh hồn là mô thức của cơ thể”
(L’ame et la forme du corps). Mô thức (la forme), có bóng dáng Platon
đã chỉ ra, muôn loài, muôn vật, được tạo ra từ một khuôn mẫu có trước
chúng. Khuôn mẫu đó, ở trên chúng, nằm ngoài chúng, tất yếu hơn chúng.
Sự sắp đặt đó giống như lề luật của linh hồn vượt qua cả Platon,
Aristote nhìn thấy tại mỗi sự vật một mô thức của riêng nó, ông gọi đó
là linh hồn. Để dễ hiểu hơn, chúng ta hãy tham chiếu ý tưởng của David
Hume sau này, ông coi mọi sự vật chỉ là chất liệu thì cũng luôn có: Chẳng hạn, một ngọn nến chưa được thắp, nó mang đầy đủ nguyên liệu về nó, đó là ”vật chất thứ nhất”. Nhưng khi ngọn nến đó được thắp lên, nó đã trở thành”vật chất thứ hai” vô cùng huyền diệu. Một chiếc xe cũng vậy, tình trạng”vật chất thứ nhất” của nó khi đứng im, cách gì có thể sánh với lúc nó là”vật chất thứ hai” đang chuyển động. Từ quan niệm đó có thể chuyển dịch cái nhìn sang Aristote, ông cho rằng, mỗi cơ thể không chỉ có da thịt làm nên nó, mà có thể còn mang một mô thức cơ cấu cho mình đó là linh hồn. Ông phân định: “Trong con người trí năng được gọi là một phần của linh hồn và bị chia ra thành trí năng sản sinh. Trí năng thụ động sẽ lụi tàn trong cái chết. Trí năng tác thành không chỉ bất diệt mà còn ly thân khỏi vật chất như mô thức tách dời khỏi vật chất” (6) Sau khi minh định trí năng thụ động và trí năng tác thành, Aristote xác định vai trò của cảm giác và nhận thức. Theo chân các tiền bối vĩ đại, một lần nữa ông lần tới nguồn mạch lý trí -xác định chỉ nó là phổ quát và tiến về chân lý. Ông nói: “Sự khác nhau (giữa cảm giác và nhận thức) là ở chỗ cái sản sinh ra cảm giác là ở bên ngoài. Nguyên nhân là ở chỗ hoạt động của cảm giác lấy cái đơn nhất làm đối tượng, còn nhận thức thì trái lại, lấy cái phổ biến làm đối tượng. Và cái phổ biến này ở mức độ nào đó, tồn tại ngay trong linh hồn như là vật chất. Vì vậy, mỗi người nếu muốn thì tự bản thân mình có thể tư tưởng được… nhưng cảm giác thì lại không phụ thuộc vào anh ta -muốn cảm giác thì cần phải có sự tồn tại của đối tượng được cảm giác” (7) Về quan niệm này của Aristote, Hegel đã hết lời tán thưởng: “Như vậy, Aristote ở vào quan điểm cao nhất, người ta không thể hy vọng hiểu biết cái gì sâu sắc hơn nữa” (8) Cảm giác luôn luôn cần có đối tượng, còn tư duy, nó có thể suy lý thuần túy, không nhất thiết lúc nào cũng cần có đối tượng. Hơn thế, Aristote xác định tư duy là bộ tham mưu tối cao vừa có thể chấp nhận, vừa có thể lảng tránh chính đối tượng. Đây có lẽ là phút khai sinh linh hồn nhận thức vô cùng trọng đại, ông nói: “Linh hồn tạo ra cả xác nhận hay phủ định và theo đuổi hay lảng tránh đối tượng” (the soul makes a quasi affirmation or negation and pursues or avoids the object” (9) Sau khi đặt xong đỉnh tháp đời sống suy tưởng là đời sống thánh thần cho nhân loại và đặt xong nền tảng tư duy khả lý (bên trên cảm xúc khả giác), Aristote đưa đời sống suy tưởng vào tiếp cận với hữu thể. Ông xác định: “Suy tưởng là hoạt động cao nhất của nhân loại, suy tưởng nằm trên đối tượng khả tri dù là cao nhất” (Contemplation is the highest human activity, thinking on the highest knowable objects”(10) Sau đó Aristote xác lập, muốn hiểu biết hữu thể thì dứt khoát phải tiến đến sự đồng nhất giữa chủ thể nhận biết (knowing subject) với vật muốn nhật biết (thing known) và theo cách đó, ông cho rằng: “Linh hồn là con đường xác định của mọi vật thể” (the soul is in a certain all thing) (11) Chính vì nguyên lý chính thấy”linh hồn đồng nhất với hữu thể” của Aristote mà Anaxagore đã tôn vinh rằng, “Aristote là người đưa linh hồn vào triết học” (Aristote est l’introduteur de la philosophic de l’esprit) (12)
Aristote cũng vạch ra con đường chắc chắn của suy niệm
tâm hồn. Theo ông, lẽ sống suy tưởng về mô thức của tâm hồn chắc chắn
như có thể cần hoạt động. Ông nói: “Bàn tay là một phương tiện của phương tiện, bởi thế tâm trí là mô thức của vật thể giả giác” (the hand is a tool of tool, so the mind is the form of forms and sense the form of sensible things) (13) Aristore đã vạch ra một hành trình rất căn bản và rành mạch: Tinh thần là đời sống tối cao của nhân loại, nó duy nhất là cái có thể không cần đối tượng, có thể thuần lý và để tri thức vạn vật nó ở bên trên vạn vật -dù là sự vật cao quý, tinh vi đến đâu. Sau khi xác lập chủ tri tinh thần, Aristore xác định rằng, triết học là khoa học về bản thể của vạn vật. Đó là cái không thể nhầm lẫn với môn vật lý. Chúng ta hãy trở lại với cách nhìn của ông: “Vật lý sẽ là môn khoa học đầu tiên. Nhưng nếu tồn tại một bản trình bất động, khoa học về bản tính này phải đến trước và phải là triết học đầu tiên. Bản thể luận cũng chính là hữu thể luận (chúng ta đã giải quyết ở chương I). Và chúng ta hãy xem Aristore bàn về hữu thể luận con đường chính yếu của triết học: “Hữu thể học là môn nghiên cứu về hữu thể xét như hữu thể và những thuộc tính của nó xét như nó là hữu thể" (Meta, T1-1003a 21 -22). Ông nói về hữu thể: “Hữu thể tự phát lộ nó (trong tương quan với hữu của nó) bằng nhiều cách thái khác nhau” (L’ être se révele à son être de multiples station) (14)
Ông xác lập: “Bốn cách thái xuất hiện của hữu thể như sau:
Aristore tìm cách xác định cách thức mà hữu thể hiện diện, ông nói:
Để hiểu, chúng ta có thể diễn giải như sau:
Với Aristore, lần đầu tiên giới triết học được biết
tường tận, chi tiết về các”kỹ thuật” của hữu thể. Ông xác định 4 thuộc
tính của hữu thể:
Chúng ta thử tra xét 4 thuộc tính này, giả sử chúng ta có một chiếc nhẫn vàng:
Ngoài 4 thuộc tính trên, Aristore còn xác lập 4 nguyên nhân vô cùng trọng yếu của mọi vật thể:
Bốn nguyên nhân này, Aristore dùng để tra xét tự nhiên
nhiều hơn, nhưng có lẽ nó rất quan trọng để tham chiếu vào mọi sự vật ở
đời. Chẳng hạn, chúng ta quan sát một cái nhà:
Từ bốn nguyên nhân chính chúng ta có thể tra xét mọi việc. Chẳng hạn một cái nhà để ngụy trang và cái nhà để ở, chúng sẽ rất khác nhau ở nguyên nhân cứu cánh.
1- Nhà để ở: che nắng, che mưa…
Như vậy, đến đây chúng ta đã theo dõi quá trình nền tảng của Aristore , bao gồm: Aristore đã vạch ra bản thể của tinh thần, cũng như bản thể của hữu thể để sửa soạn đi vào lộ trình của nhật thức, xa hơn, cao hơn nhằm tiến về chân lý. Ông cho rằng, nhận thức của con người phải bắt đầu từ một nguồn sáng đến trước kinh nghiệm, đó là linh hồn. Ông nói: “Con người của kinh nghiệm hiểu vật thể là gì, nhưng không hiểu tại sao, trong khi đó người khác hiểu được”tại sao” và nguyên nhân nữa” (18) Về căn bản, từ tự nhiên đến triết học, con người phải xác định được nguyên lý, đó là sức sống vĩnh cửu trôi chảy trong vạn vật. Về điểm này, mở màn Platon đã hình dung ra khuôn mẫu”tất yếu” của muôn vật. Nhưng như trên chúng ta đã bàn, Aristore đã tìm đến nguyên lý giống cái mô thức của mô thức. Đó là mô thức thuần khiết, giống như con đường của nguyên lý hay của linh hồn thuần khiết. Chẳng hạn, Aristore cho rằng, thể chế chính trị của mỗi quốc gia là một lề luật tức mô thức thuần”bút mực” - phi vật chất vậy mà mô thức đó là cái quyết định nhất đến phẩm chất của mỗi quốc gia. Ông nói ”Sự tồn tại của một xã hội toàn thể với một lề luật phi bút mực được áp dụng cho toàn thể mọi người” (The existence of an universal society with unwritten law applying to all people).
Khi Aristore đề cập đến lề luật ”phi bút mực”, nghĩa là
ông muốn ám chỉ, quy luật tồn tại của một xã hội dựa trên cả lề luật
thành văn, thậm chí cả lề luật bất thành văn, đó là giá trị là sức
mạnh, là nguyên lý siêu hình (phi vật chất) nhưng lại quy định phẩm
tính của tồn tại xã hội. Kinh nghiệm nghĩa là cách tiếp xúc trực tiếp với đối tượng để nhận biết nó. Nhưng Aristore quan niệm, nhận thức mở màn - triển khai, hiểu biết, dựa trên nghệ thuật nhiều hơn kinh nghiệm. Trong cuộc sống, chúng ta có thể thấy rõ một điều, kẻ có học là kẻ nắm được những hệ thống nghệ thuật hay khoa học để nắm bắt vấn đề. Đó là người có tri thức nhà nghề, có chuyên môn. Ngược lại, nhiều kẻ sống lâu lên lão làng, kinh nghiệm về rất nhiều thứ nhưng đó chỉ là những kinh nghiệm tản mạn, không thể tạo thành một nhà chuyên môn trong bất kỳ lĩnh vực nào. Và chính vì quan niệm cốt tử đó, Aristore đã tạo dựng các nghệ thuật để nắm bắt hữu thể.
Chúng ta hãy lần lượt khảo sát các nghệ thuật nhận thức của ông: ![]() Thầy và Trò vua Alexander Đại đế bantinsom.com ( theo chungta )
Các tin khác:
▪ Khoa học về cái phức tạp (26/04)
▪ Tình yêu, Giàu có và Thành công (23/04)
▪ Hành thiền trong quản trị thời gian (18/04)
▪ Khi tạo hóa ban cho chỉ có vậy (16/04)
|