|
Thứ sáu, 24/04/2009, 22:30 GMT+7
Lý giải căn bệnh tài chính Mỹ
Mùa thu năm 2008 là một mùa thu nhiều sự kiện của nước Mỹ: hai trận bão thiên nhiên liên tiếp càn quét qua vùng Tây Trung bộ và trận bão cho vay dưới chuẩn đẩy phố Wall vào thảm cảnh.
Ngày
15 tháng 9, chỉ số Nasdaq tụt 504,48 điểm, mức giảm lên tới 4,42%, là
mức giảm trong ngày lớn thứ 6 trong lịch sử và là mức giảm lớn nhất
trong ngày kể từ sự kiện 11 tháng 9 bảy năm về trước.Ứng cử viên tổng
thống của đảng Dân chủ Obama trong một bài phát biểu mới trên truyền
hình cho hay: nước Mỹ có thể đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính
nghiêm trọng nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1930.
Ai trúng đạn?
Chính phủ Mỹ tuy cam kết tiếp quản 2 công ty bất động sản nhưng điều đó không phải là chìa khoá giải quyết được mọi vấn đề. Để ứng cứu hai công ty này, chính phủ đã phải bỏ ra một khoản 200 tỷ USD và nguồn tiền này sẽ buộc phải lấy từ nguồn đóng thuế của người dân Mỹ hay in thêm tiền giấy, cả hai sự lựa chọn này đều chịu vô vàn sức ép từ cả trong nước và quốc tế và sẽ là một lựa chọn khó khăn. Sự thực là, động thái này của Mỹ có nguyên nhân chủ yếu nhất là vì những nhà đầu tư từ bên ngoài. Nếu không cứu hai công ty này, những nhà đầu tư nước ngoài như Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những khoản tổn thất to lớn và “cường quốc” vay nợ Mỹ sẽ lâm vào cảnh khốn cùng. Tuy động thái ứng cứu này của Mỹ được các nhà đầu tư nước ngoài ủng hộ nhiệt liệt nhưng không có nghĩa độ tin cậy và ngành tài chính Mỹ không bị sứt mẻ trên trường quốc tế.
Sự suy sụp trên quy mô lớn của ngành tài chính là không thể tránh khỏi và sự sụt giảm của thị trường chứng khoán sẽ còn đánh mạnh vào lòng tin của nhà đầu tư, góp thêm gió cho cơn bão khủng hoảng của ngành này. Không chỉ các nhà đầu tư nước ngoài phải gánh chịu tổn thất từ thị trường tài chính Mỹ, khủng hoảng tài chính Mỹ còn ảnh hưởng tới kinh tế toàn cầu. Vấn đề đang được quan tâm phổ biến hiện nay là: suy thoái kinh tế do khủng hoảng tài chính Mỹ có gây nên một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hay không? Kẻ nào gây tội?
Khủng hoảng
tài chính phố Wall do đâu nên nỗi? Có thể nói, chính phủ, tổ chức tài
chính và người dân đều cùng góp vào sai lầm chung chết người này.
Khủng hoảng tài chính sớm nhất nổ ra từ
ngành kinh doanh bất động sản rồi nối dài sang ngành tài chính. Nhiều
người dân Mỹ vốn không có khả năng tạu nhà tạu xe đã nhận được những
khoản vay từ các ngân hàng để vào sống trong các căn hộ đắt tiền. Đương
nhiên, khoản vay của họ có mức lãi suất cực cao. Hiện tượng này bùng
nổ, giá nhà tăng vọt gấp vài lần chỉ trong 2-3 năm. Khi thực hiện vay
thế chấp thứ cấp, các tổ chức cho vay và người đi vay đều cho rằng nếu
việc hoàn trả khoản vay gặp khó, người đi vay chỉ cần rao bán bất động
sản hoặc đem thế chấp lấy một khoản vay mới. Nhưng sự thực là, bởi Cục
dự trữ liên bang Mỹ liên tiếp cắt giảm lãi suất tới 17 lần, từ quý 2
năm 2006, thị trường bất động sản liên tiếp hạ nhiệt, người đi vay rất
khó bán bất động sản và kể cả bán được thì giá trị của bất động sản
cũng đã rớt tới mức không đủ để thanh toán các khoản còn vay nợ. Lúc
bấy giờ, bong bóng vỡ, khủng hoảng bùng phát. Người đi vay bắt đầu từ
chối thanh toán các khoản vay ngân hàng. Hiện tượng này xuất hiện ngày
càng nhiều đồng thời các tổ chức cho vay cũng không có cách nào bù đắp
lại tổn thất bằng cách bán các bất động sản thế chấp bị thu hồi.
Hậu quả trực tiếp của tình trạng này
là những trái khoán tín dụng thứ cấp phát hành trở nên vô giá trị bởi
khoản vay đi liền với nó đã không thể thu hồi. Rất nhiều ngân hàng đầu
tư và quỹ đối ứng đều đã mua những trái khoán này hoặc các gói đầu tư
vào các nhóm trái khoán này và vì thế, họ lỗ nặng. Khủng hoảng trên thị
trường tín dụng thế chấp dưới chuẩn bắt đầu lộ rõ và phát triển hung
hãn. Cuối cùng nó đưa tới những khoản nợ xấu cho hai hãng Fannie Mae và
Freddie Mac khiến hai hãng này buộc phải tuyên bố phá sản.
“Không được để tất cả trứng trong cùng
một giỏ”, quy tắc thông thường này có thể dùng để hình dung về tình
cảnh của hai hãng được chống lưng bởi chính phủ Mỹ đã nắm giữ tới trên
80% các khoản vay bất động sản trên toàn nước Mỹ. Có thể thấy rằng,
chính phủ Mỹ với vai trò người hoạch định chính sách phải chịu trách
nhiệm không thể chối cãi trong tình cảnh này. Không chỉ đem tất cả
trứng để vào giỏ của hai hãng bất động sản, Mỹ lại không có các biện
pháp giám sát chặt chẽ, không có cơ chế quản lý rủi ro có hiệu quả và
vì thế, không có khả năng chế ngự kịp thời cuộc khủng hoảng.
Khủng hoảng bùng phát, đa phần lợi
nhuận của các nhà đầu tư đều bị bốc hơi kha khá, những khoản tiền ứng
cứu thị trường mà chính phủ tung ra, cuối cùng tổn thất cũng do những
người dân đóng thuế phải gánh chịu, điều này thật bất công. Người mắc
tội lý ra phải bị trừng phạt, Fed và Sở giao dịch chứng khoán Mỹ là
những cơ quan giám sát thị trường lại không phát huy được vai trò cần
có, rõ ràng phải là những đối tượng phải chịu trách nhiệm đầu tiên.
Theo báo cáo thu nhập giới quản lý cao cấp của Fannie Mae và Freddie
Mac, giám đốc điều hành của hai công ty này có thu nhập trong năm 2007
khoản 30 triệu USD. Tương quan so sánh với con số này, con số tổn thất
do khủng hoảng tín dụng thứ cấp của hai công ty trong cùng kỳ vào
khoảng 1 tỷ USD.
Theo một nhà phân tích lão làng, cuộc
khủng hoảng này tự thân nó “là do quản lý sai lầm, mục đích của nó là
làm lợi tối đa cho lợi ích cá nhân”. Tầng lớp quản lý cao cấp của các
tổ chức tài chính hưởng một mức lương ngất ngưởng lại thực hiện những
nghiệp vụ kinh doanh có độ nguy hiểm cao, họ cần phải bị trừng phạt
thích đáng. Sau khủng hoảng, lời kêu gọi hoàn thiện thể chế giám sát
tài chính đang ngày một lớn. Những ngày gần đây, McCain đã cam kết sẽ
kết thúc tình trạng vận hành như sòng bạc đỏ đen của phố Wall và kêu
gọi đình chỉ việc trả những khoản lương lên tới hàng triệu đôla cho
những giám đốc điều hành đã phản bội lại niềm tin của công chúng. Trong
lúc đó, ứng cử viên đảng Dân chủ Obama cũng kêu gọi các yêu cầu giám
sát ngân hàng thương mại phải được mở rộng sang cá ngân hàng đầu tư,
quỹ đối ứng và các tổ chức trung gian cho vay thế chấp. Ông còn kêu gọi
lập nên một Uỷ ban để giám sát những đe doạ đối với hệ thống tài chính.
Về phần người dân, họ đã phải trả giá
cho hành vi của mình. Bắt đầu từ năm nay, người dân Mỹ đã thay đổi thói
quen tiêu dùng thái quá, học sự cần kiệm sinh sống của người dân châu
Á, những phương cách tiết kiệm tiền được phổ biến nhanh chóng. Từ khía
cạnh này có thể nói đây có lẽ cũng là một điều tốt lành.
Khủng hoảng tài chính phố Wall vẫn còn
chưa kết thúc. Nhưng có một bài học đã được chứng thực, sáng tạo tài
chính không phải là vạn năng, nó phải được đặt dưới lăng kính soi xét
cẩn thận của quy luật kinh tế cơ bản trước khi đem áp dụng rộng rãi.
bantinsom.com ( theo vietimes.com.vn )
Các tin khác:
▪ Ngân hàng UBS sẽ cắt 8700 việc làm (17/04)
▪ Bài toán hạ lãi suất còn hữu hiệu? (17/04)
|