|
Thứ sáu, 24/04/2009, 19:01 GMT+7
Khổng Minh có biết Lưu Bị không tin mình?
Vào năm Kiến Hưng thứ nhất, Gia Cát Lượng sớm đã “lập phủ quản chính sự, không lâu sau, lĩnh quản Ích Châu”, từ sau đó “chính sự không phân lớn nhỏ đều thu về mối Lượng quyết cả”. Là Thượng Thư lệnh chỉ xếp sau Gia Cát Lượng, lại là một trong hai trọng thần được gửi gắm, Lý Nghiêm chỉ được cái danh hão Quang Lộc Huân, lại bị điều đi Giang Châu xa xôi, hậu quả thực sự của việc này đã dẫn tới việc vắng bóng hoàn toàn vai trò của Lý Nghiêm trong một chiến dịch quân sự lớn như cuộc Bắc phạt lần này.
Trong lòng Gia Cát Lượng, ông ta trước sau gì đều đặt mình ở vị trí tối thượng, coi thường người khác, luôn cho rằng Thục Hán đến khi ông ta “ngày không còn thân này nữa thì khó lòng bước tới Trung Nguyên, tranh hùng cùng nước lớn” (7). Cũng có lý do để tin rằng ông ta nắm rất rõ mục đích của Lưu Bị xếp Lý Nghiêm cùng ông ta phò tá Lưu Thiền là để lợi dụng Lý Nghiêm mà chế ước ông ta. Do vậy, để đảo bảm sự thao túng của ông ta trong chính quyền Thục Hán, ông ta quyết không cho phép người có thể uy hiếp mình về mặt chính trị như Lý Nghiêm bước vào trung tâm quyền lực và nắm thực quyền quân sự. Đó là vì sao ngoài việc ông ta luôn ngăn trở Lý Nghiêm vào Thành Đô, ông ta đã sớm ra tay dấn thêm một bước nữa làm giảm thực quyền của Lý Nghiêm trước khi Bắc phạt.
Như trên tôi đã nói, trước Bắc phạt, Gia
Cát Lượng không có cơ hội thi triển tài trí quân sự của mình mà chỉ mãi
gắn với tài hoa trong chính trị và ngoại giao. Cuộc nam chinh vừa kết
thúc, do đối thủ chỉ được coi là những dân tộc thiểu số man di nên cũng
khôg mang lại cho ông ta nhiều tăm tiếng về quân sự. Sau khi ông ta
phát động Bắc phạt, phản ứng của nước Nguỵ “coi ở nước Thục chỉ có Lưu
Bị. Bị đã chết, bao nhiêu năm chẳng có động tĩnh gì, chẳng có gì là lạ”
cũng đã cho thấy về cơ bản Tào Nguỵ không coi ông ta là một đối thủ
quân sự đáng để lưu tâm. Do vậy Gia Cát Lượng phát động Bắc phạt, dù cố
nhiên xuất phát từ yêu cầu chiến lược của chính quyền Thục Hán. Nhưng
phải đối mặt với đối thủ như Lý Nghiêm giàu tài thao lược quân sự, lại
là một trong hai trọng thần được gửi gắm, đối mặt cả với những thế lực
chính trị không tâm phục khẩu phục ông ta, thì việc Bắc phạt còn là một
nhu cầu quyết liệt về chính trị của cá nhân Gia Cát. Trước Bắc phạt, Gia Cát Lượng từng lấy lý do sau khi Bắc phạt Hán Trung sẽ xuất hiện khoảng trống lực lượng quân sự mà đòi Lý Nghiêm phải điều đội quân đồn trú ở Giang Châu về Hán Trung. Giả dụ Lý Nghiêm quả có đi Hán Trung, rõ ràng quân đội của ông sẽ bị trưng tập, trở thành một nhánh trong đội quân Bắc phạt do Gia Cát Lượng thống soái, ông cũng sẽ trở thành một tướng lĩnh dưới trướng Gia Cát Lượng. Vậy thì những tư cách của vị đại thần được gửi gắm, được Lưu Bị phong cho “thống lĩnh việc quân trong ngoài”, ngang hàng với Gia Cát sẽ bị xoá bỏ triệt để hết mọi địa vị và thực lực trong đối trọng với Gia Cát Lượng. Lý Nghiêm hiểu rõ hậu quả này hơn ai hết nên đã tìm mọi lý do cự tuyệt yêu cầu của Gia Cát Lượng. Về phần mình, trong việc xử lý vấn đề này, Gia Cát Lượng tỏ ra không đủ mạnh để cưỡng theo ý mình được. Bởi Giang Châu là trấn ở tuyến hai khu tiếp giáp giữa vùng Đông Thục Hán với Đông Ngô, Tào Nguỵ, quan trọng không kém vị trí của Hán Trung đối diện với thế lực của Tào Nguỵ phía Bắc, trong chuyện này, Gia Cát Lượng không có cách nào làm người khác tâm phục được, nhất định đòi bám riết lấy lý do đòi Lý Nghiêm và quân ở Giang Châu điều về Hán Trung. Quá thừa kinh nghiệm chính trị, Lý Nghiêm lúc ấy không những cự tuyệt yêu cầu này của Gia Cát mà còn nhân dịp ấy phản kích lại. Ông thừa thế đòi gom 5 quận ở tuyến phía đông của Thục Hán là Ba, Ba Đông, Ba Tây, Bồi Lăng lại thành Ba Châu, giao cho ông làm Thứ sử.
Vào năm Kiến Hưng thứ
nhất, Gia Cát Lượng sớm đã “lập phủ quản chính sự, không lâu sau, lĩnh
quản Ích Châu”, từ sau đó “chính sự không phân lớn nhỏ đều thu về mối
Lượng quyết cả”. Là Thượng Thư lệnh chỉ xếp sau Gia Cát Lượng, lại là
một trong hai trọng thần được gửi gắm, Lý Nghiêm chỉ được cái danh hão
Quang Lộc Huân, lại bị điều đi Giang Châu xa xôi, hậu quả thực sự của
việc này đã dẫn tới việc vắng bóng hoàn toàn vai trò của Lý Nghiêm
trong một chiến dịch quân sự lớn như cuộc Bắc phạt lần này.
Lần đầu tiên dám phản
bác lại việc người ta chèn ép mình, Lý Nghiêm đã để lộ tiếng nói công
khai không hoà hợp lần đầu tiên giữa hai trọng thần của triều Thục Hán,
điều này cũng khiến Gia Cát Lượng ý thức được địa vị của mình trong
triều bị uy hiếp, thế lực của tập đoàn Đông Châu, Ích Châu là không thể
xem nhẹ. Vậy nên Gia Cát Lượng trong “Xuất sư biểu” mới nêu một loạt
những động thái thâm thuý khiến người ta phải nghiền ngẫm làm vậy, lại
thêm những điều nói với Lưu Thiền như: “Thị trung, thị lang Quách Tu
Chi, Phí Vĩ, Đổng Duẫn thảy đều dùng được, chí khí trung thuận, được
tiên vương di chiếu lại phụng sự bệ hạ. Ngu thần đem những việc trong
cung không phân lớn nhỏ đều nghe xét ý quần thần rồi đem thi hành tất
có thể bổ khuyết chỗ bất túc , có ích lắm lắm.... Thân hiền thần, xa
tiểu nhân, ấy là cách Tiên Hán hưng vượng; thân tiểu nhân, xa hiền
thần, ấy là cách Hậu Hán khuynh đảo. Ngày Tiên vương còn, mỗi lần cùng
thần luận bàn tới việc này đều không đừng được căm hận Hằng Đế, Linh
Đế. Thị trung, Thượng thư, Trưởng sử, Tham quân, những đại thần tiết
tháo trung trinh này xin bệ hạ gần với họ tin lấy họ thì nhà Hán hưng
vượng chỉ còn tính theo ngày mà thôi”. Câu nói này có mục đích và định
hướng rõ ràng, chính là để có cách giải thích hợp lý, đồng thời qua đó
cũng thể hiện sự đấu tranh trong nội bộ chính quyền Thục Hán đã bước
vào giai đoạn quyết liệt.
Mùa xuân năm Kiến Hưng
thứ 6, Cuộc Bắc phạt mà Gia Cát Lượng đã dày công hoạc định bao lâu nay
cũng đã bắt đầu. Nhưng bởi tướng tiên phong Mã Tốc do Gia Cát Lượng
đích thân chỉ định thiếu kinh nghiệm thực chiến trầm trọng nên chỉ vài
đạo quân của đại quân “biết quyền biến, thiện chiến dạn dày, liệu địa
hình chiến cuộc không gì không tỏ, từ Gia Cát trở đi đều phải e dè” (9)
do một trong năm đại danh tướng của Tào Nguỵ là Trương Cáp đã dễ dàng
đánh bại suốt một dải Nhai Đình, dẫn tới cuộc Bắc phạt lần đầu do Gia
Cát vạch nên không chỉ thảm bại quay về không chút vinh quang thắng lợi
mà còn gây nên những tổn thất nhất định. Mã Tốc đại tướng tiên phong do đích thân Gia Cát Lượng phong lúc bấy giờ không giống như chuyện lưu truyền rộng rãi là đi tìm Gia Cát Lượng thỉnh tội mà sau khi thất bại trở về chọn cách sợ tội đào tẩu, sau rồi bị bắt về quy án. Gia Cát Lượng xử tội chết rồi, còn chưa kịp thi hành đã lâm bệnh rồi chết trong ngục. Mã Tốc đào tẩu còn dẫn tới việc Hướng Lang (thúc phụ Hướng Sủng), một cốt cán khác của tập đoàn Kinh Sở có quan hệ tốt với Mã Tốc do biết thông tin mà không trình báo, bị cách chức, sau rồi ưu nhàn tận những 20 năm ròng (về việc này có thể xem cuốn “Gia Cát Lượng không giết Mã Tốc”). Có thể nói thế này, lần Bắc phạt đầu thất bại khiến tập đoàn Kinh Sở cùng Gia Cát Lượng bắt đầu phải đối mặt với những vấn đề và trải nghiệm nghiêm trọng nhất kể từ sau khi Lưu Bị qua đời, khởi đầu mối nguy cơ lần này hoàn toàn là do Gia Cát Lượng quá cố chấp nhất nhất theo ý mình. Về việc lựa chọn người tiên phong trong lần Bắc phạt lần này, Gia Cát Lượng đã tỏ rõ mặt cố chấp ngang ngược trong tính cách của ông ta. Trước khi Lưu Bị lâm chung có thể do biết quan hệ mật thiết giữa anh em Mã thị với Gia Cát Lượng nên từng nhắc nhở Gia Cát: “Mã Tốc nói không bằng làm, không thể dùng vào việc lớn, ngươi phải giám sát chặt!”. Vậy mà Lưu Bị qua đời rồi, “Lượng lại đổi ngoắt, cho Tốc làm Tham quân, mỗi lần gọi vào bàn chính sự, suốt từ lúc trời sáng tới tận khuya”. Có thể thấy Gia Cát Lượng không coi những lời cảnh báo của Lưu Bị ra gì, nói cho nghiêm trọng thì, việc làm này thậm chí có thể nói là một hành vi “phản chủ”. Gia Cát Lượng cứ nhất nhất tự tác, bỏ không dùng những lão tướng như Nguỵ Diên, Ngô Nhất “bỏ để dùng Tốc”, có thể thấy được sẽ khiến những người ấy bất bình đến mức nào. (10). Nếu Bắc phạt thu được một vài chiến tích nhất định thì những vấn đề này sẽ chỉ như mây mờ khói ảo chẳng có gì quan trọng, nhưng lần Bắc phạt này lại phải thoái lui không một chiến tích, lại chịu những tổn thất khá nặng nề. Trong bối cảnh như vậy, những vấn đề này mới trở nên nghiêm trọng ngoài dự liệu. Trước hết, Gia Cát Lượng phải đối mặt với những chất vấn của phe có thực quyền trong quân đội gồm Nguỵ Diên, Ngô Nhất…, tại sao tiên đế đã nói rõ ràng “Mã Tốc nói không bằng làm, không thể dùng vào việc lớn, ngươi phải giám sát chặt”, ngươi đã bội phản lại ý chỉ của tiên đế, không dùng chúng ta mà còn “bỏ để dùng Tốc”. Thứ nữa tất nhiến phải kể tới những lời cật vấn của những đối thủ chính trị trong triều như Lý Nghiêm.
Tập đoàn Đông Châu, Ích
Châu tôn Lý Nghiêm làm đầu lĩnh, luôn phải chịu sự chèn ép bài trừ của
tập đoàn Kinh Sở của Gia Cát Lượng. Trong cả quá trình Bắc phạt lần
này, mang danh là đại thần được ký thác “thống lĩnh việc quân trong
ngoài” mà Lý Nghiêm thậm chí còn không có một cơ hội nào để lên tiếng
hay để trổ tài. Tuy ông không đến mức ngáng đường hay gây khó dễ cho
cuộc Bắc phạt mà Gia Cát Lượng đã dày công hoạch định và chỉ huy lần
này nhưng với một cơ hội hiếm có, có khả năng giúp vỗ mặt Gia Cát Lượng
và tập đoàn Kinh Sở một phen như thế này, bọn họ chắc chắn không dễ gì
bỏ qua mà nhất định sẽ thừa cơ để dâng tấu chương làm to chuyện.
Đối mặt với nguy cơ
chính trị nghiêm trọng như vậy, Gia Cát Lượng một mặt tự biện bạch với
Hậu chủ: “Thần tài hèn chẳng xứng, liều nắm quân quyền mà điều động ba
quân, không thể giúp tỏ tường ý pháp, lúc lâm sự thì sợ hãi, đến cả
thành Nhai Đình làm trái thánh ý, gây nên tổn thất dù đã cố ngăn chặn,
mọi tội trạng đều vì thần không cách gì đảm đương được. Thần không biết
nhìn người, xét việc u minh, tứ bề tội trạng xin chỉ để người đầu lĩnh
này chịu, đáng lắm đáng lắm. Xin tự giáng xuống 3 cấp để tự răn mình”.
Rõ ràng ông ta cũng biết chỉ riêng những lời “không cách gì đảm đương”,
“không biết nhìn người” cũng không khác gì những lời chỉ trích của Lý
Nghiêm hay thậm chí của Nguỵ Diên, Ngô Nhất. Do vậy một mặt Gia Cát
Lượng còn cần một người gánh hộ những thất bại của cuộc Bắc phạt do ông
ta chỉ huy lần này để cho mình một cơ hội thoát thân và cơ hội ấy rõ
ràng chỉ có thể đến từ Mã Tốc. Vậy là rốt cục hậu quả chỉ có thể là
“lôi Tốc ra chém chết trước thiên hạ”, Gia Cát Lượng thì giáng xuống là
Tả tướng quân nhưng vẫn như trước “làm việc của thừa tướng, thực quyền
vẫn như trước” (11). Mã Tốc làm con dê tế thần, trở thành vật hi sinh
cho cuộc đấu tranh quyền lực và chính trị lần này.
---------------------- (7) (11) (16) “Tam quốc chí” “Thục thư” “Gia Cát Lượng truyện” (8) “Tam Quốc chí” “Thục thư” “Lý Nghiêm truyện”: “thần (Gia Cát Lượng lúc Bắc xuất muốn có quân của Bình (Lý Nghiêm) để trấn Hán Trung, Bình có ý bất tuân, không chịu tới, lại xin lấy ngũ quận về làm Thứ sử Ba Châu”. (9) “Tam quốc chí” “Nguỵ thư” “Trương Cáp truyện” (10) “Tam quốc chí” “Thục thư” “Mã Lương truyện”: “Thần có phần lơi lỏng nghĩ Lương Cái đã cùng Lượng kết tình huynh đệ, hoặc có thân thích gì với thừa tướng; Lượng tuổi cao, Lương theo đó mà gọi Lượng là tôn huynh. Em Lương là Tốc, tự Ấu Thường, từ Kinh Châu theo việc mà vào Thục, … Tài khí hơn người, giỏi bàn việc quân, thừa tướng Gia Cát Lượng rất lấy làm tâm đắc. Tiên chủ trước có dặn Lượng: “Mã Tốc nói giỏi hơn làm, không làm được việc lớn, ngươi phải giám sát cho chặt!”Lượng lại đổi ngoắt, cho Tốc làm Tham quân, mỗi lần gọi vào bàn chính sự, suốt từ lúc trời sáng tới tận khuya. … Năm Kiến Hưng thứ sáu, Lượng xuất quân về Kì Sơn, lúc bấy giờ có lão tướng Nguỵ Diên, Ngô Nhất ai cũng đều nói xứng làm tiên phong, nhưng Lượng bỏ qua mà dùng Tốc, thống lĩnh đại quân, giao chiến với tướng Nguỵ Trương Cáp ở Nhai Đình, bị Cáp phá tan, sỹ tốt tán loạn. Lượng không có đường tiến, đành luy quân về Hán Trung”. (Còn nữa)
bantinsom.com ( theo vietimes.com.vn )
Các tin khác:
▪ Binh pháp Tôn Tử và chứng khoán (16/04)
|