Vì sao đô-la Mỹ được chọn là tiền tệ dự trữ của thế giới? Nó được đảm bảo bằng gì? Vì sao nó lại liên tục mất giá? Tại sao Cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve-Fed) là một ngân hàng của tư nhân và do một số nhà tài phiệt sở hữu? Tại sao Phố Wall lại mạo hiểm chọn Hitler làm đối tượng rót vốn đầu tư? Vì sao rất nhiều tổng thống Mỹ luôn là đối tượng ám sát của những kẻ “tâm thần”? Vì sao kinh tế Nhật Bản một thời tăng trưởng lại liên tục ì ạch cả chục năm qua? Lạm phát là gì? Ai được lợi từ lạm phát? Có phải lạm phát cao là cách thức các thế lực cướp đi tài sản lao động của các dân tộc?
|
| Co hay khong mot cuoc chien.. |
Nguyên nhân sự sụp đổ kinh tế
Đông Âu và nước Nga cũng như suy thoái kinh tế kéo dài của Nhật Bản?
Vì sao xuất hiện cơn bão tài chính tiền tệ Đông Nam Á, Hàn Quốc năm 1997? Các nhà
tư bản đã kéo tới “vặt lông” chú hổ Thái Lan như thế nào?
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là gì?
Vì sao các chuyên gia lại coi nó là công cụ bóc lột tài nguyên của các nước
nghèo?
Chính sách tiền tệ của Trung Quốc có ngăn được sự can thiệp và thao túng của giới
tài phiệt thế giới không?
Bong bóng kinh tế nhà đất và tín dụng thứ cấp của kinh tế Mỹ là gì? Vì sao thị trường
tiền tệ thế giới lại sắp có chao đảo? Các nhà tài phiệt sẽ kiếm lời ra sao?
CHÍNH
SÁCH MỚI VỀ TIỀN TỆ CỦA LINCOLN
Không có tiền thì không
thể tiến hành chiến tranh, mà nếu vay của ngân hàng quốc tế thì
chẳng khác nào tự treo thòng lọng vào cổ mình. Lincoln
nghĩ trăm phương ngàn kế để tìm phương án giải quyết. Lúc đó, Dick Taylor
– một người bạn cũ của ông ở Chicago - đã
đề xuất với Lincoln
một chủ ý, Chính phủ tự phát hành tiền tệ!
“Việc yêu cầu Quốc hội thông qua đề án này cũng như vấn đề trao quyền cho
Bộ tài chính ấn hành tiền tệ sẽ có đầy đủ hiệu lực pháp luật nhằm
giúp chi trả lương bổng cho binh sĩ, sau đó sẽ giúp anh giành được thắng
lợi trong cuộc chiến mà anh tiến hành.” Lincoln hỏi liệu người dân Mỹ
có tiếp nhận đồng tiền mới này hay không, Dick nói rằng “tất cả mọi
người đều sẽ không có sự lựa chọn nào khác trong vấn đề này, chỉ
cần anh tạo nên hiệu lực pháp lý đầy đủ cho loại tiền tệ mới này,
Chính phủ đưa ra sự ủng hộ hoàn toàn, và chúng sẽ thông dụng giống
như một loại tiền đích thực, bởi vì hiến pháp trao cho quốc hội
quyền phát hành và quyền quy định giá trị tiền tệ.”
Sau khi nghe xong đề nghị này, Lincoln tỏ ra quá đỗi vui mừng, lập tức
đề nghị Dick lập kế hoạch cho việc này. Biện pháp hết sức mới lạ này
đã phá vỡ cách làm thường lệ của Chính phủ là cần phải vay tiền
và chịu lãi suất cao của ngân hàng tư nhân. Loại tiền mới này sử
dụng hoa văn màu xanh lục để phân biệt với tiền của các ngân hàng khác
và được lịch sử gọi là “tiền xanh” (Greenback). Chỗ mới lạ đặc biệt
của loại tiền mới này nằm ở chỗ nó hoàn toàn không có thế chấp
bằng tiền vàng hay bạc, và lợi tức là 5% cho 20 năm.
Trong thời kỳ nội chiến, nhờ có sự phát hành của loại tiền này mà
Mỹ đã khắc phục được tình trạng thiếu hụt tiền tệ nghiêm trọng của Chính
phủ trong giai đoạn đầu của cuộc chiến. Điều này đã huy động một
cách hiệu quả nhất tất cả các nguồn vốn của miền bắc nước Mỹ, tạo
nên một cơ sở kinh tế vững chắc cho chiến thắng cuối cùng trước quân
miền nam. Đồng thời, loại tiền này nhờ có giá thành thấp nên cũng
đã trở thành loại tiền tích luỹ của ngân hàng miền Bắc, tín dụng
ngân hàng của miền Bắc cũng nhờ đó mà được mở rộng, công nghiệp
quốc phòng, xây dựng đường sắt, sản xuất nông nghiệp và mậu dịch
thương nghiệp đều nhận được sự chi viện tài chính lớn chưa từng có
so với trước đó.
Việc phát hiện những mỏ vàng lớn những năm 1848 đã khiến cho nền
tài chính Mỹ dần dần thoát khỏi cục diện bất lợi và cực đoan do
các ngân hàng châu Âu khống chế, và cũng chính nhờ vào sản lượng lớn
những mỏ vàng này làm niềm tin nên loại tiền mới của Lincoln mới có
thể được người dân tiếp nhận rộng rãi, đặt cơ sở tài chính đáng tin
cậy cho việc giành thắng lợi trong cuộc chiến Nam – Bắc. Một điều
nữa khiến người ta càng thêm kinh ngạc hơn là, loại tiền mới do
Lincoln phát hành không hề gây ra lạm phát tiền tệ nghiêm trọng kiểu
như trong thời kỳ chiến tranh độc lập, từ khi cuộc nội chiến nổ ra
vào năm 1861 đến khi kết thúc vào năm 1865, chỉ số vật giá của toàn
miền bắc Mỹ chỉ tăng một cách nhẹ nhàng từ 100 lên 216. Xem xét quy
mô và sự nghiêm trọng về mức độ phá hoại của cuộc chiến so với
những cuộc chiến có quy mô tương tự khác trên thế giới, chúng ta không thể
không nói rằng đây là một kỳ tích tài chính. Ngược lại, miền nam cũng
dùng phương thức lưu thông tiền giấy, nhưng hiệu quả thì khác xa một
trời một vực, chỉ số vật giá của miền nam trong cùng một thời kỳ
đã tăng từ 100 lên đến 2776. [32]
Trong suốt thời kỳ chiến tranh Nam
- Bắc, Chính quyền Lincoln
đã phát hành tổng cộng số tiền mới là 450 triệu đô-la Mỹ. Nhờ cơ
chế vận hành đồng tiền mới này tốt như vậy cho nên tổng thống
Lincoln đã xem xét hết sức nghiêm túc việc tiến hành trường kỳ hóa
và pháp chế hóa việc phát hành loại tiền tệ không thế chấp này
(Debt Free Money). Nhưng chính điều này đã như một đòn đau đánh vào
lợi ích căn bản của trùm tài chính quốc tế. Nếu như mọi chính phủ
đều không cần phải vay tiền của ngân hàng mà “thản nhiên” tự mình
phát hành tiền tệ, thì sự lũng đoạn của các ngân hàng đối với việc
phát hành tiền tệ sẽ không còn tồn tại nữa, như thế lẽ nào không
phải là ngân hàng đã trơ mỏ rồi sao?
Ngay sau khi nghe được tin tức này, tờ London Times đại diện
cho Ngân hàng Anh quốc đã lập tức đăng tải tuyên bố:
Nếu như chính sách
tài chính mới của Mỹ (tiền xanh Lihncon) khiến người ta chán ghét được
thực thi vĩnh viễn, chính phủ có thể phát hành khống nguồn tiền tệ của
mình. Chính phủ có thể hoàn trả hết mọi khoản nợ đồng thời sẽ thu
được những khoản tiền cần thiết để phát triển thương nghiệp, sẽ biến
thành một quốc gia phồn vinh chưa từng có trên thế giới, nguồn nhân
tài ưu tú và mọi tài nguyên vốn có trên thế giới này sẽ chảy dồn
về bắc Mỹ. Quốc gia này cần phải bị phá hủy, nếu không nó sẽ phá
hủy từng quốc gia theo chế độ quân chủ trên thế giới.
Chính phủ của Anh và
hiệp hội ngân hàng New York
đã bày tỏ sự phẫn nộ đòi hỏi phải thực hiện các hành động đáp
trả. Ngày 28 tháng 12 năm 1861, họ tuyên bố đình chỉ chi trả bằng
tiền kim loại cho Chính phủ của Lincoln.
Một số ngân hàng ở New York còn đình chỉ việc rút vàng của những
người gửi tiết kiệm bằng vàng, đồng thời tuyên bố hủy bỏ việc chấp nhận
dùng vàng mua công trái của Chính phủ. Các ngân hàng ở nhiều nơi trên
nước Mỹ cũng rầm rộ hưởng ứng. Họ đến Washington để đề xuất những
phương án thay đổi vô nguyên tắc đối với tổng thống Lincoln, đòi thực
hiện lại những cách làm trong quá khứ, đem những công trái có lợi
tức cao bán cho các ngân hàng châu Âu; đem vàng của Chính phủ Mỹ gửi
vào các ngân hàng tư nhân để dự trữ phát hành tín dụng, các ngân
hàng phát tài lớn; Chính phủ Mỹ trưng thu thuế của các ngành công
nghiệp và người dân để chi trả cho chiến tranh.
Đương nhiên, Tổng thống Lincoln
đã cự tuyệt yêu cầu hoàn toàn vô lý này của các ngân hàng. Chính
sách của ông rất được lòng dân, người dân Mỹ đã nô nức mua hết toàn
bộ công trái, và căn cứ vào pháp luật, các công trái này được sử dụng
như là hiện kim.
Các ngân hàng thấy kế sách bất thành bèn nghĩ ra kế khác. Các ngân
hàng phát hiện thấy rằng trong luật phát hành tiền xanh Lihncon của
quốc hội hoàn toàn không đề cập đến việc nên dùng vàng để chi trả
lãi tức công trái hay không. Vì vậy, họ cho phép dùng loại tiền mới của
Lincoln để mua
công trái, nhưng phần lợi tức phải dùng tiền kim loại để chi trả. Đây
là một bước trong kế hoạch hoàn chỉnh nhằm gắn kết đồng tiền mới của Lincoln tại Mỹ với giá
trị của vàng. Trong khi đó, các ngân hàng châu Âu tích lũy đồng bảng
Anh nhiều hơn bất cứ đồng tiền nào thời đó và nhiều hơn so với tiền
vàng của Mỹ. Sự thỏa hiệp giữa ngân hàng Mỹ và quốc hội Mỹ đã
khiến cho thế lực tài chính quốc tế lợi dụng việc khống chế tổng
lượng xuất nhập khẩu vàng đối với nước Mỹ gián tiếp đạt được hiệu
quả thao túng giá trị tiền tệ của Mỹ.
ĐỒNG MINH NGA CỦA
LINCOLN
Trong thời khắc nguy ngập khi các quốc vương ở châu Âu đã chuẩn bị
sẵn sàng để đem quân sang chia cắt nước Mỹ, Lincoln đã lập tức nhớ
đến kẻ thù truyền kiếp của các quốc vương châu Âu – nước Nga. Lincoln đã phái đặc
sứ cầu cứu Sa hoàng Alechxande đệ nhị. Khi nhận được thư của Lincoln,
Sa hoàng không mở ra ngay, mà nâng nâng trên tay, rồi nói rằng: “Trước
khi mở bức thư này hoặc biết được nội dung của nó, chúng ta sẽ đồng
ý trước với bất cứ yêu cầu nào mà bức thư đề xuất.” [33]
Nguyên
nhân Sa hoàng chuẩn bị tham gia quân sự vào cuộc nội chiến Mỹ có mấy
mặt sau đây. Một là sự lo lắng “môi hở răng lạnh”, vì trong thời kỳ
Alechxande đại đế trị vì, các thế lực tài chính quốc tế quét sạch
châu Âu đã gõ cửa điện Kremli. Học theo kinh nghiệm của các quốc gia tài
chính “tiên tiến” ở châu Âu, các ngân hàng kịch liệt yêu cầu thành
lập ngân hàng trung ương tư hữu, và Sa Hoàng đã sớm nhận ra chiêu độc
trong việc này nên đã kiên quyết từ chối yêu cầu này. Khi nhìn thấy
tổng thống Lincoln - một thế lực phản đối tài chính quốc tế - rơi
vào tình cảnh nguy hiểm, nếu như không ra tay tương trợ, thì Alechxande
đệ nhị e rằng, chẳng mấy chốc mối nguy ấy sẽ ập đến với chính mình.
Một nguyên nhân khác là ngày 3 tháng 3 năm 1861 trước khi nổ ra cuộc
nội chiến Nam – Bắc ở Mỹ, Alechxande đệ nhị đã tuyên bố pháp lệnh
giải phóng nông nô, và về mặt phế bỏ chế độ nô lệ này, cả hai bên đều
có những quan điểm chung. Và còn một điều nữa là cuộc chiến tranh
Crimean của nước Nga vừa mới kết thúc năm 1856 đã đại bại dưới tay
của liên quân Anh – Pháp, nên Alechxande đệ nhị chưa nguôi chuyện rửa
hận.
Chưa
tuyên chuyến, hạm đội của Nga dưới sự thống lĩnh của tướng Liviski
đã tiến vào cảng New York
vào ngày 24 tháng 9 năm 1663. Ngày 12 tháng 10, hạm đội Thái Bình
Dương của Nga dưới sự thống soái của tướng Popov đã đến San Francisco . Đối với
hành động của nước Nga, Wales đã bình luận rằng: “Họ đã đến khi
miền nam đang ở vào lúc triều lên còn miền bắc ở vào thế triều
xuống, sự xuất hiện của họ đã tạo nên sự do dự của Anh và Pháp,
cuối cùng đã cho Lincoln thời gian xoay chuyển được cục diện.”
Sau khi nội chiến kết thúc, để chi trả khoản phí tổng cộng 7,2 triệu
đô-la Mỹ cho hạm đội của nước Nga, Chính phủ của Mỹ đã chần chừ
kéo dài thời gian. Bởi vì hiến pháp không trao cho Tổng thống quyền
chi trả chi phí chiến tranh cho Chính phủ nước ngoài, Tổng thống
Johanson khi đó đã đạt được hiệp ước dùng chính vùng đất Alaska mua của
nước Nga để chi trả khoản chi phí chiến tranh. Trong lịch sử, vụ việc
này được gọi là “Sự điên rồ của Seward”. Seward là quốc vụ khanh khi đó
của Hoa Kỳ, và đã bị dân chúng kịch liệt chỉ trích khi bỏ ra 7,2 triệu
đô-la để đi mua lại một vùng đất hoang hóa không đáng một xu khi đó của
Nga.
Cũng vì một nguyên nhân tương tự mà Alechxande đệ nhị đã bị hành
thích vào năm 1867, nhưng cuộc hành thích đã không thành công. Ngày 1
tháng 3 năm 1881, Alechxande cuối cùng cũng chết vào tay thích
khách.
AI LÀ HUNG THỦ
THẬT SỰ ÁM SÁT LINCOLN
?
Bismarck – vị
thủ tướng kiên cường và giàu lòng hy sinh của nước Đức đã từng chỉ
ra một cách sắc bén rằng:
Ông ấy (Lincoln) được quốc hội trao quyền tiến hành vay
tiền thông qua việc bán khoản công trái cho người dân, như vậy thì
Chính phủ và quốc gia sẽ thoát được khỏi cái bẫy cài sẵn của các
nhà tài chính nước ngoài. Trong khi họ (các nhà tài chính quốc tế)
hiểu rõ được rằng nước Mỹ sẽ thoát khỏi vòng khống chế của họ,
thì ngày chết của Lincoln chẳng còn mấy xa xôi.
Sau khi ra sắc lệnh giải phóng nô lệ da đen và thống nhất
miền nam, ngay lập tức Lincoln đã tuyên bố xóa toàn bộ các khoản nợ
chiến tranh mà miền nam đã gánh chịu. Các ngân hàng quốc tế chu cấp
khoản lớn tài chính cho miền nam trong suốt cuộc chiến, đã bị tổn
thất nghiêm trọng vì quyết định này. Để trả thù Lincoln, đặc biệt
là để lật đổ chính sách mới về tiền tệ của Lincoln, họ đã tập
hợp các thế lực bất mãn đối với vị tổng thống này, bí mật lên kế
hoạch ám sát tổng thống. Với họ, chuyện chỉ đạo đám côn đồ ám sát
tổng thống thực tế không phải là một việc khó khăn.
Sau khi Lincoln bị ám sát, dưới sự thao túng của các thế lực tài
chính quốc tế, quốc hội tuyên bố phế bỏ chính sách tiền tệ mới của
Lincoln, giới hạn của việc phát hành tiền tệ mới của Lincoln không được
vượt quá 400 triệu đô-la.
Năm 1972, có người hỏi Bộ tài chính Mỹ rằng, với số tiền mới 450
triệu đô-la Mỹ của Lincoln phát hành, chính phủ rốt cuộc đã tiết kiệm
được bao nhiêu lãi suất. Sau mấy tuần tính toán kỹ lưỡng, câu trả
lời của Bộ tài chính là: nhờ tổng số tiền Lincoln tự phát hành cho
Chính phủ Mỹ mà quốc gia này đã tiết kiệm được 4 tỉ đô-la lợi nhuận.
[34]
Cuộc chiến tranh nam bắc của Mỹ, về căn bản là một cuộc tranh
giành lợi ích kịch liệt giữa các thế lực tài chính quốc tế cũng
như những người đại diện cho các thế lực đó và Chính phủ Mỹ trong việc
thống soái quyền phát hành tiền tệ quốc gia và chính sách tài chính
tiền tệ của Mỹ. Trong thời gian hơn một trăm năm sau cuộc chiến tranh
nam bắc, đôi bên đã tiến hành những cuộc chiến tàn khốc, tổng cộng
đã có 7 tổng thống Mỹ vì cuộc chiến này mà bị ám sát, nhiều nghị
sĩ bị thủ tiêu. Mãi đến năm 1913, việc thành lập hệ thống ngân hàng
dự trữ liên bang Mỹ đã đánh dấu cho thắng lợi mang tính quyết định
của ngân hàng quốc tế.
Thật đúng như Bismarck
đã nói:
Cái chết của Lincoln là sự tổn thất nghiêm trọng của thế
giới cơ đốc giáo. Nước Mỹ có thể không còn ai có thể đi lại con
đường vĩ đại của ông, còn các ngân hàng sẽ lại một lần nữa khống
chế những ai giàu có. Tôi lo rằng các ngân hàng nước ngoài với những
thủ đoạn cao siêu và tàn bạo sẽ dành được sự giàu có của nước Mỹ,
sau đó dùng nó để hủy hoại nền văn minh hiện đại một cách có hệ
thống.
SỰ THỎA HIỆP CHÍ
MẠNG: “PHÁP LỆNH NGÂN HÀNG QUỐC GIA” NĂM 1863
Vai trò mà tôi đã
đóng góp trong việc thúc dục cho ra đời pháp lệnh ngân hàng quốc gia
là sai lầm tài chính nghiêm trọng nhất trong cuộc đời. Sự lũng đoạn
(cung ứng tiền tệ) mà nó (pháp lệnh ngân hàng quốc gia) sản sinh ra
sẽ ảnh hưởng đến tất cả các phương diện của đất nước này. Nó cần
phải bị phế bỏ, nhưng trước khi điều này xảy ra, đất nước này sẽ
chia thành hai phía, một bên là người dân, còn bên kia là ngân hàng,
tình huống này vẫn chưa từng xuất hiện trong lịch sử của đất nước
này.
Bộ trưởng tài chính Mỹ Salomon Ches (1861 – 1864)
Sau khi cuộc chiến tranh Nam - Bắc
bùng nổ, Lincoln đã cự tuyệt khoản lợi tức cắt cổ từ 24% đến 36%
của Rothschild và các đại diện khác của họ ở Mỹ, chuyển sang trao
quyền cho Bộ tài chính phán hành “tín phiếu chính phủ Mỹ” (United
States Notes) của riêng mình, hay còn được gọi là bạc xanh. Pháp lệnh tiền
tệ (Legal Tender Atc) được thông qua tháng 2 năm 1862 . Pháp lệnh này trao
quyền cho Bộ tài chính phát hành 150 triệu đồng tiền xanh, liền sau
đó vào tháng 7 năm 1862 và tháng 3 năm 1863, lại trao quyền cho Bộ tài
chính phát hành thêm 150 triệu tiền xanh nữa. Nói chung, trong thời kỳ
nội chiến, tổng số tiền xanh được phát hành đã lên đến 450 triệu.
Việc phát hành tiền xanh của Lincoln chẳng khác nào chọc vào tổ ong vò
vẽ của ngân hàng quốc tế, các ngân hàng đau như bò đá trước hành động
này của Tổng thống, nhưng ngược lại, tầng lớp nhân dân và các ngành
công nghiệp khác thì lại tỏ thái độ hết sức hoan nghênh đối với
loại tiền xanh này. Đồng tiền xanh của Lincoln được lưu hành mãi đến
năm 1994 trong hệ thống tiền tệ của Mỹ.
Năm 1863, khi cuộc chiến đã bước đến hồi quyết định nhất, Lincoln cần
nhiều tiền xanh hơn nữa để giành được thắng lợi. Nhằm được trao quyền
phát hành tiền xanh lần thứ ba, ông không thể không cúi đầu trước các thế
lực của các ngân hàng trong quốc hội đề ra một sự thỏa hiệp quan
trọng, ký vào pháp lệnh “ngân hàng quốc gia” năm 1863. Pháp lệnh này
trao cho Chính phủ quyền phê chuẩn cho ngân hàng quốc gia (National Bank)
phát hành chứng chỉ ngân hàng với tiêu chuẩn thống nhất. Những ngân
hàng này trên thực tế sẽ phát hành tiền tệ quốc gia của Mỹ. Một
điểm hết sức quan trọng chính là những ngân hàng này dùng trái
phiếu chính phủ Mỹ (Gorvernment Bond) làm nguồn dự trữ cho việc phát
hành chứng chỉ ngân hàng, trên thực tế sẽ khóa chặt sự phát hành
tiền tệ của Mỹ với các khoản vay của Chính phủ, và như thế thì
Chính phủ sẽ mãi không thể hoàn trả hết các khoản nợ này.
John Kenneth Galbraith - nhà kinh tế học lừng danh người Mỹ - đã từng
chỉ ra một cách sắc bén rằng: “Rất nhiều năm sau khi cuộc nội chiến
kết thúc, mỗi năm, Chính phủ liên bang đều thu được khoản thặng dư
rất lớn. Nhưng nó lại không thể hoàn trả hết những khoản nợ mà nó
đã vay, bồi hoàn toàn bộ những khoản nợ Chính phủ đã phát
hành ra, bởi vì như vậy đồng nghĩa với việc chẳng còn khoản nợ nào
để làm thế chấp cho quỹ tiền tệ quốc gia. Việc hoàn trả hết các
khoản nợ cũng đồng nghĩa là đã phá hủy toàn bộ sự lưu thông tiền
tệ.”
Âm mưu tái thiết lập một mô hình ngân hàng theo kiểu Ngân hàng
Anh ở Mỹ của các ngân hàng quốc tế cuối cùng đã trở thành
hiện thực. Từ đây, lợi tức lâu dài từ các khoản nợ của Chính phủ
Mỹ sẽ chảy vào túi các ngân hàng, và nó chẳng khác nào một sợi
thòng lọng ngày càng siết chặt vào cổ nhân dân Mỹ. Đến năm 2006,
tổng khoản vay nợ của Chính phủ liên bang Mỹ đã lên đến con số khổng
lồ 8,6 vạn tỉ đô-la, bình quân mỗi nhà có bốn người phải gánh chịu
một khoản nợ quốc gia lên đến 112000 đô-la, và tốc độ tăng trưởng
tổng nợ cả đất nước Mỹ trong mỗi giây là 20000 đô-la! Khoản chi trả
lợi tức của Chính phủ liên bang Mỹ đối với nợ quốc gia chỉ đứng sau
ngân sách dành cho y tế và quốc phòng, và đến năm 2006 sẽ đạt đến
con số khổng lồ 400 tỉ đô-la Mỹ.
Bắt đầu từ năm 1864, các ngân hàng có thể đời đời kiếp kiếp hưởng thụ
bữa đại tiệc lợi tức từ khoản nợ quốc gia này của Mỹ. Chỉ vì xem
nhẹ sự khác biệt giữa việc chính phủ trực tiếp phát hành tiện tệ
với việc chính phủ phát hành công trái còn ngân hàng phát hành
tiền, mà các nhà ngân hàng đã tạo nên một sự bất công lớn nhất trong
lịch sử loài người. Người dân bị ép phải nộp thuế gián tiếp qua các
ngân hàng, mà những khoản thuế này chính là tài sản và tiền bạc do
mồ hôi nước mắt của họ làm nên!
Mãi đến ngày nay, Trung Quốc là một trong số ít quốc gia trên thế
giới có chính sách phát hành tiền tệ do chính phủ trực tiếp điều hành.
Nhờ đó khoản lợi tức phải chi trả mà Chính phủ và người dân đã
tiết kiệm được trở thành nhân tố quan trọng không thể thiếu khiến Trung
Quốc có thể phát triển nhanh và lâu dài như vậy. Nếu có ai đó đưa ra
đề xuất phải học hỏi “kinh nghiệm tiến bộ” của nước ngoài, ngân
hàng nhân dân cần phải dùng nợ quốc gia của Chính phủ làm thế chấp
để phát hành đồng nhân dân tệ, thì người dân Trung Quốc cần phải coi
chừng.
Lincoln không phải là không biết đến nguy cơ đe dọa vĩnh cửu này và dự tính
rằng, sau khi thắng cử ở nhiệm kỳ kế tiếp vào năm 1865, ông sẽ phế
bỏ pháp lệnh này, nhưng chỉ 42 ngày sau khi trúng cử, Lincoln đã bị
ám sát. Các thế lực của ngân hàng quốc tế trong quốc hội thừa
thắng xông lên. Họ cho rằng, cần phải loại bỏ đồng tiền xanh của
Lincoln thì mới có thể kê cao gối mà ngủ được. Ngày 12 tháng 4 năm
1866, quốc hội đã thông qua “Pháp lệnh thu hồi” (Contraction Act), hòng
thu hồi tất cả các đồng tiền xanh hiện đang lưu thông, và đổi lại thành
tiền kim loại, sau đó gạt bỏ tiền xanh ra khỏi hệ thống lưu thông, khôi
phục chế độ bản vị vàng.
Ở một đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến điêu tàn cần khôi phục,
chẳng có gì hoang đường hơn là một chính sách kiểm soát gắt gao
tiền tệ. Lượng tiền tệ lưu thông 1,8 tỉ đô-la Mỹ từ năm 1866 (tức
khoảng 50,46 đô-la Mỹ mỗi người), đã sụt giảm xuống còn 1,3 tỉ đô-la Mỹ
năm 1867 (tức 44 đô-la Mỹ mỗi người), 600 triệu đola Mỹ năm 1876 (mỗi người
14,6 đô-la), cuối cùng là giảm xuống còn 400 triệu đô-la Mỹ (mỗi người
6,67 đô-la) năm 1886, trong bối cảnh một nước Mỹ với nhiều vết thương
chiến tranh cần chữa trị, một nền kinh tế cần được phục hồi và
phát triển, đồng thời tình hình dân số tăng nhanh, nhưng lại gặp cảnh
thiếu hụt nghiêm trọng lượng cung ứng tiền tệ, đa số người dân đều
cho rằng sự phồn vinh rồi suy thoái là quy luật của phát triển kinh
tế. Nhưng trên thực tế, nguồn cung ứng tiền tệ được thao túng khi
buông khi siết bởi các ngân hàng quốc tế mới là nguồn cơn thực sự
của vấn đề.
Mùa đông năm 1872, các ngân hàng quốc tế đã phái Ernest Seyd đem theo
một khoản tiền lớn từ Anh vào Mỹ, thông qua việc hối lộ các quan
chức để thông qua “pháp lệnh tiền đúc năm 1873” (Coinage Act), lịch sử
gọi là “pháp lệnh ngu xuẩn 1873” (Crime of 1873), đích thân Ernest Seyd
đã soạn thảo pháp lệnh này, và nó đã gạt bỏ tiền bằng bạc ra khỏi
hệ thống lưu thông tiền tệ, tiền vàng trở thành thứ tiền tệ duy
nhất. Pháp lệnh này không còn nghi ngờ gì về hiệu ứng phủ sương lên
tuyết cho dòng lưu thông tiền tệ vốn đã thiếu hụt trầm trọng. Sau khi
xong việc, Ernest Seyd vênh váo tự đắc nói rằng: “Mùa đông năm 1872, ta
đã làm một chuyến đến Mỹ, ta đã đảm bảo chắc chắc việc thông qua
pháp lệnh tiền đúc để phế bỏ tiền bạc. Cái mà ta đại diện là lợi
ích của các chủ tịch ngân hàng Anh quốc. Đến năm 1873, tiền vàng đã
trở thành loại tiền kim loại duy nhất.”
Nhưng sự thật, tác dụng của việc loại trừ tiền bạc ra khỏi lĩnh
vực lưu thông tiền tệ quốc tế là nhằm để đảm bảo chắc chắn sức
khống chế tuyệt đối của các ngân hàng quốc tế đối với lượng cung ứng
tiền tệ thế giới, đối phó với việc khai thác các mỏ bạc với số
lượng ngày càng nhiều, còn sản lượng và việc thăm dò các mỏ vàng
ngày càng ít đi, sau khi đã nắm giữ được việc khai thác các mỏ vàng
thế giới, đương nhiên ngân hàng quốc tế không muốn lưu lượng tiền bạc
mà họ khó khống chế được lại can dự vào địa vị bá quyền tài
chính thế giới của họ. Cho nên kể từ năm 1871, bạc trắng đã được
loại trừ đồng loạt ở các quốc gia Đức, Anh, Hà Lan, Áo, Scandinavis,
dẫn đến việc lượng lưu thông tiền tệ của mỗi quốc gia bị co lại là
rất lớn, từ đó đã dẫn đến cuộc đại suy thoái kinh tế nghiêm trọng
kéo dài 20 năm ở châu Âu (Long Depression, 1873 – 1896).
Ở Mỹ, “pháp lệnh thu hồi” và “pháp lệnh tiền đúc” đã trực tiếp gây
nên cuộc đại suy thoái kinh tế từ năm 1873 đến năm 1879. Trong khoảng
thời gian ba năm này, tỉ lệ thất nghiệp của Mỹ đã cao đến 30%, người
dân Mỹ đã cương quyết yêu cầu phải khôi phục lại thời kỳ lưu hành
song song tiền bạc và tiền xanh Lincoln. Dân chúng Mỹ thành lập một
cách tự phát các tổ chức như hội bạc trắng (US Silver Commission),
hội tiền xanh (Greenback Party), thúc đẩy cả nước khôi phục lại chế
độ lưu hành song song tiền vàng và tiền bạc, phát hành lại tiền xanh
Lincoln vốn được người dân rất hoan nghênh.
Báo cáo của hội bạc trắng ở Mỹ đã chỉ ra: “Thời kỳ trung cổ đen
tối chính là do tiền tệ thiếu hụt và giá cả sụt giảm gây nên. Không
có tiền tệ, không có văn minh, cung ứng tiền tệ giảm, văn minh tất
nhiên sẽ tiêu vong. Thời cơ đốc giáo La Mã, đế quốc có tổng cộng
lượng lưu thông tiền tệ kim loại tương đương với 1,8 tỉ đô-la Mỹ, đến
cuối thế kỷ 15, lượng lưu thông tiền tệ kim loại (của châu Âu) chỉ còn
lại 200 triệu đô-la Mỹ. Lịch sử đã chứng minh rằng không có bất cứ
sự thay đổi có tính chất tai họa nào sánh bằng việc đế quốc La Mã
chuyển sang thời trung cổ đen tối.”
Nhưng đối diện với những đòi hỏi của dân chúng Mỹ là thái độ dứt
khoát lạnh lùng của hiệp hội các nhà ngân hàng Mỹ (The American Bankers
Association). Trong thư của hiệp hội này gửi cho các hội viên đã chỉ
ra:
Chúng tôi đề nghị các ngài hãy dốc toàn lực dựa vào
các nhật báo và tạp chí danh tiếng, đặc biệt là tổ chức nông
nghiệp và tôn giáo, kiên quyết phản đối Chính phủ phát hành
tiền xanh, các ngài phải chấm dứt trợ giúp những ứng cử viên nào
không tỏ ý phản đối việc Chính phủ phát hành tiền xanh. Việc
gạt bỏ quyền phát hành tiền tệ quốc gia của ngân hàng hoặc khôi
phục việc phát hành tiền xanh của Chính phủ sẽ khiến cho (quốc
gia) có thể cung ứng tiền tệ cho người dân, điều này sẽ phương hại
nghiêm trọng đến lợi nhuận của ngân hàng cũng như lợi ích của những
người cho vay như chúng ta. Lập tức hẹn gặp các nghị viên quốc hội ở
khu vực của các ngài, yêu cầu họ bảo vệ lợi ích của chúng ta, như
vậy chúng ta có thể khống chế lập pháp.
Năm 1881, trong cảnh kinh tế tiêu điều, Tổng thống thứ 20
của Mỹ là James bước lên đài chính trị và đã nhìn thấy cũng như
nắm bắt được điểm cốt yếu của vấn đề. Ông nói rằng:
Ở bất cứ quốc gia nào, ai không chế được việc cung ứng
tiền tệ thì người đó trở thành người chủ tuyệt đối của các ngành
công, thương nghiệp hiện có. Trong khi hiểu rõ được toàn bộ hệ thống
(tiền tệ) do một thiểu số người dùng phương pháp này hay phương pháp
kia không chế một cách hết sức dễ dàng, thì bạn không cần người
khác nói cho bạn biết về nguồn gốc của việc lạm phát và siết chặt
tiền tệ.
Lời phát biểu này mới được phát đi trong mấy
tuần thì Tổng thống đã bị Charles Guiteau - một tên “mắc bệnh tâm
thần” ám sát vào ngày 2 tháng 7 năm 1881. Tổng thống bị bắn hai
phát, và cuối cùng qua đời ngày 19 tháng 9.
Trong suốt thế kỷ 19, các ngân hàng quốc tế đã thành công với sách
lược “dùng quyền lực của đồng tiền thần thánh để thu được vương quyền
thần thánh”. Tại Mỹ, “quyền lực thần thánh của đồng tiền cũng dần
làm tan rã dân quyền thiêng liêng”. Sau những cuộc đọ sức kịch liệt
kéo dài hàng trăm năm với Chính phủ dân cử của nước Mỹ, các ngân
hàng quốc tế đã chiếm thế thượng phong. Các nhà sử học của Mỹ đã
chỉ ra rằng, tỉ lệ hy sinh của các đời tổng thống Mỹ còn cao hơn
nhiều so với tỉ lệ hy sinh bình quân của thuỷ quân lục chiến Mỹ.
Khi các ngân hàng nghênh ngang đắc ý đã nắm được trong tay pháp lệnh
ngân hàng quốc gia năm 1863, thì mục tiêu thành lập một ngân hàng với
mô hình của Ngân hàng Anh ở Mỹ chỉ còn trong gang tấc. Một ngân hàng
trung ương tư hữu hoàn toàn khống chế quyền phát hành tiền tệ của
nước Mỹ, một ngân hàng của các đại gia ngân hàng đã manh nha hình
thành.