|
Thứ năm, 16/04/2009, 12:37 GMT+7
George Soros và mô thức mới cho thị trường tài chính
Là nhân vật số một trong giới tài chính, George Soros được coi là người "một tay che cả bầu trời", là người có thể làm mất giá bất kỳ một thứ tiền tệ nào trên thế giới, hoặc thậm chí gây ra những cuộc khủng hoảng kinh tế với qui mô toàn cầu.
Trong Mô thức mới cho thị trường tài chính, Soros đã dùng kinh nghiệm và lí luận của mình để phân tích một cách sâu sắc và thẳng thừng cuộc khủng hoảng hiện tại, đồng thời dự đoán cho cả tương lai. George Soros đã làm được một việc vô giá: giúp chúng ta hiểu rõ về cuộc đại khủng hoảng tín dụng và ảnh hưởng của nó lên kinh tế toàn cầu.
Trích chương 1
Ý Tưởng Cốt Lõi Điểm xuất phát của tôi là hiểu biết của chúng ta về thế giới mà chúng ta đang sống vốn dĩ không hoàn hảo, do chúng ta là một phần của cái thế giới mà chúng ta đang tìm cách hiểu. Có thể còn những tác nhân khác can thiệp đến khả năng thâu nhận tri thức của chúng ta về thế giới tự nhiên, nhưng việc chúng ta là một phần của cái thế giới đó đã đặt ra một chướng ngại khổng lồ cho sự hiểu biết những vấn đề về con người.
Có hai chức năng khác nhau trong việc hiểu một hoàn cảnh và tham
dự vào hoàn cảnh đó. Một mặt, con người tìm cách hiểu cái thế giới nơi họ đang sống.
Tôi gọi đó là chức năng nhận thức. Mặt khác, con người luôn tìm cách gây ảnh
hưởng lên thế giới và thay đổi nó để làm lợi cho mình. Tôi đã từng gọi đây là
chức năng tham dự, nhưng nay tôi thấy gọi đó là chức năng thao túng thì thích
hợp hơn.[1]
Nếu hai chức năng này tách biệt khỏi nhau thì chúng sẽ đạt được mục đích của
chúng một cách hoàn hảo: sự hiểu biết của những người tham dự khi ấy được coi
là tri thức, và những hành động của họ đem lại những kết quả mong muốn. Vì lý
do đó, người ta rất dễ bị cám dỗ để đặt định đề rằng hai chức năng này trên
thực tế vận hành riêng biệt với nhau. Quả thực, giả định đó đã từng được đặt
ra, rõ ràng nhất là trong lý thuyết kinh tế. Nhưng không thể minh biện cho giả
định đó được, trừ trong một số trường hợp ngoại lệ mà những người tham gia có
một nỗ lực đặc biệt để giữ cho hai chức năng này được tách biệt khỏi nhau. Điều
đó có thể đúng trong trường hợp các nhà khoa học xã hội tập trung cống hiến cho
việc theo đuổi tri thức, nhưng lại không đúng với những người tham gia vào
những sự kiện mà các nhà khoa học xã hội đem nghiên cứu. Vì những lý do mà tôi
sẽ trình bày sau này, các nhà khoa học xã hội, đặc biệt là các nhà kinh tế học,
thường lờ đi thực tế này.
Lý thuyết kinh tế học đã cố gắng rất nhiều để loại tính phản hồi ra khỏi trọng tâm của nó. Ban đầu, các nhà kinh tế học cổ điển đơn giản cho rằng những thành viên thị trường khi ra quyết định là dựa trên tri thức (thông tin) hoàn hảo: một trong những định đề cho lý thuyết cạnh tranh hoàn hảo chính là thông tin hoàn hảo. Xây dựng trên những định đề đó, các nhà kinh tế học đã lập nên đường cầu và đường cung rồi tuyên bố rằng những đường cong này chi phối quyết định của những người tham dự. Khi mô hình này bị chỉ trích, họ bèn ẩn náu đằng sau một quy ước phương pháp luận. Lionel Robbins, giáo sư của tôi ở trường Kinh tế London, lập luận rằng kinh tế học chỉ quan tâm tới mối quan hệ giữa cung và cầu, còn những gì tham gia vào việc tạo nên cung và cầu đó thì nằm ngoài phạm vi của nó.[2] Bằng việc coi cung và cầu là có sẵn một cách độc lập, ông đã loại bỏ khả năng có thể có một mối quan hệ phản hồi qua lại giữa hai yếu tố đó. Lối tiếp cận này về sau bị đẩy tới mức cực đoan là thuyết kỳ vọng hợp lý; thuyết này đã xoay sở để có thể đạt tới kết luận rằng giá cả thị trường trong tương lai có thể được xác định một cách độc lập và không bị phụ thuộc vào những thiên kiến và ngộ nhận phổ biến của các thành viên thị trường. Tôi cho rằng thuyết kỳ vọng hợp lý đã giải thích sai hoàn toàn cách thị trường tài chính vận hành. Mặc dầu thuyết kỳ vọng hợp lý không còn được giới “phi hàn lâm” coi trọng, nhưng cái ý tưởng rằng thị trường tài chính có thể tự điều chỉnh và có xu hướng đạt tới trạng thái cân bằng vẫn còn là một mô thức phổ biến, trên đó nhiều sản phẩm tài chính tổng hợp và mô hình lượng giá có vai trò chủ đạo trong thị trường tài chính đặt nền móng. Tôi cho rằng mô thức phổ biến ấy là sai và cần phải thay nó ngay lập tức.
Thực tế là những người tham dự không thể ra quyết định dựa vào tri
thức. Mối liên hệ hai chiều có tính phản hồi giữa hai hàm nhận thức và thao
túng đã đưa vào cả hai hàm một yếu tố ngẫu nhiên và bất định. Điều này đúng với
cả những thành viên thị trường lẫn những giới chức tài chính phụ trách chính
sách kinh tế vĩ mô và có trách nhiệm giám sát, điều phối thị trường. Các thành
viên của cả hai nhóm đó đều hành động trên cơ sở một hiểu biết không hoàn hảo
về tình huống mà họ đang tham dự. Tuy không thể loại bỏ yếu tố bất định có sẵn
trong mối quan hệ phản hồi hai chiều giữa các chức năng nhận thức và thao túng,
nhưng nếu chấp nhận thực tế này thì chúng ta có thể cải thiện hiểu biết và khả
năng thích nghi với hoàn cảnh của chúng ta rất nhiều.
Điều khó hiểu là vì sao khái niệm tính phản hồi vẫn chưa được
nhiều người công nhận. Trong trường hợp thị trường tài chính thì tôi biết câu
trả lời: tính phản hồi ngăn cản các nhà kinh tế lập ra các lý thuyết có thể giải
thích và tiên đoán hành vi của thị trường tài chính, giống cách mà các nhà khoa
học tự nhiên có thể giải thích và tiên đoán các hiện tượng tự nhiên. Để xây
dựng và bảo vệ vị thế của kinh tế học như một ngành khoa học, các nhà kinh tế
học đã làm mọi cách để loại tính phản hồi ra khỏi chủ đề của họ. Khi bước sang
những lĩnh vực khác của thực tế thì tôi không dám chắc lắm do không thật khá
trong môn Triết. Tôi có cảm giác là các triết gia đã vật lộn với vấn đề này
theo nhiều cách khác nhau. Thí dụ, Aristotle đã phân biệt giữa lý tính lý
thuyết (ở đây là chức năng nhận thức) với lý tính thực hành (tức chức năng thao
túng). Tuy nhiên vì là triết gia nên họ đã quá bận tâm với chức năng nhận thức đến
nỗi không quan tâm đủ tới chức năng thao túng.
Thuyết phản hồi tìm cách soi rọi mối quan hệ giữa tư duy và thực
tại. Nó chỉ áp dụng cho một phân khúc tương đối hẹp của thực tại. Trong lĩnh
vực các hiện tượng tự nhiên, các sự kiện xảy ra độc lập với cái mà ta nghĩ; do
đó khoa học tự nhiên có thể giải thích và tiên đoán diễn biến các sự kiện một
cách tương đối chắc chắn. Tính phản hồi bị giới hạn trong lĩnh vực của các hiện
tượng xã hội – cụ thể hơn, trong những hoàn cảnh mà ở đó những người tham dự
không thể lấy thuần tri thức làm cơ sở cho các quyết định của mình – và điều
này đã tạo ra những khó khăn cho các ngành khoa học xã hội mà các ngành khoa
học tự nhiên không gặp phải.
Tính phản hồi có thể được cắt nghĩa như một vòng tròn hay một vòng
phản hồi hai chiều giữa quan điểm của những người tham dự với hoàn cảnh hiện tại.
Người ta ra quyết định không dựa trên hoàn cảnh thực sự mà người ta phải
đối diện, mà trên nhận thức hay diễn giải của người ta về hoàn cảnh đó. Quyết
định của họ tác động lên hoàn cảnh (chức năng thao túng), và những thay đổi của
hoàn cảnh lại rất có thể sẽ làm cho họ thay đổi nhận thức (chức năng nhận
thức). Hai chức năng này vận hành cùng lúc chứ không liên tiếp nối nhau. Nếu
phản hồi là nối tiếp, nó sẽ tạo ra một chuỗi kết nối xác định duy nhất dẫn
thẳng từ dữ kiện tới nhận thức, tới dữ kiện mới và rồi tới nhận thức mới và cứ
thế mãi. Trước khi bước vào trình bày chi tiết lý thuyết này, tôi nghĩ có lẽ sẽ có ích nếu tôi kể lại cách tôi đã phát triển nó như thế nào trong suốt bao nhiêu năm. Như độc giả sẽ thấy, lý thuyết này hình thành từ kinh nghiệm cá nhân tôi. Tôi đã học được từ khi còn rất trẻ rằng những hệ tư tưởng dựa trên những tiền đề sai lầm có thể làm biến đổi thực tại như thế nào. Tôi cũng đã học được rằng có những lúc không thể áp dụng những qui tắc bình thường, và những lúc đó thì những điều bất thường trở thành những điều bình thường. bantinsom.com ( theo Bwportal )
|